Chúa nhật Lễ Lá năm A (Mt 26,14-27,66)

Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa.

Tin mừng – kiệu lá: Mt 21, 1-11

1 Mấy ngày trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su và các môn đệ đến gần thành Giê-ru-sa-lem và tới làng Bết-pha-ghê, phía núi Ô-liu. Bấy giờ, Đức Giê-su sai hai môn đệ và 2 bảo: “Các anh đi vào làng trước mặt kia, và sẽ thấy ngay một con lừa mẹ đang cột sẵn đó, có con lừa con bên cạnh. Các anh cởi dây ra và dắt về cho Thầy.

3 Nếu có ai nói gì với các anh, thì trả lời là Chúa cần đến chúng, Người sẽ gởi lại ngay.”

4 Sự việc đó xảy ra như thế để ứng nghiệm lời ngôn sứ: 5 Hãy bảo thiếu nữ Xi-on: Kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi, hiền hậu ngồi trên lưng lừa, lưng lừa con, là con của một con vật chở đồ.

6 Các môn đệ ra đi và làm theo lời Đức Giê-su đã truyền.

7 Các ông dắt lừa mẹ và lừa con về, trải áo choàng của mình trên lưng chúng, và Đức Giê-su cỡi lên.

8 Một đám người rất đông cũng lấy áo choàng trải xuống mặt đường, một số khác lại chặt nhành chặt lá mà rải lên lối đi.

9 Dân chúng, người đi trước kẻ theo sau, reo hò vang dậy: Hoan hô Con vua Đa-vít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời.

10 Khi Đức Giê-su vào Giê-ru-sa-lem, cả thành náo động, và thiên hạ hỏi nhau: “Ông này là ai vậy?”

11 Dân chúng trả lời: “Ngôn sứ Giê-su, người Na-da-rét, xứ Ga-li-lê đấy.”

Cuộc Thương Khó của Đức Giê-su Ki-tô,
Chúa chúng ta.

Bài đọc 1: Is 50,4-7

Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ, tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng.

Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.

4Đức Chúa là Chúa Thượng
đã cho tôi nói năng như một người môn đệ,
để tôi biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức.
Sáng sáng Người đánh thức, Người đánh thức tôi
để tôi lắng tai nghe như một người môn đệ.

5Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi,
còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui.

6Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn,
giơ má cho người ta giật râu.
Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ.

7Có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi,
vì thế, tôi đã không hổ thẹn,
vì thế, tôi trơ mặt ra như đá.
Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng.

 

Đáp ca: Tv 21,7-9.17-18.19-20.23.24 (Đ. c.2a)

Đ.Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa,
Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?

7Thân sâu bọ chứ người đâu phải,
con bị đời mắng chửi dể duôi.
8Thấy con ai cũng chê cười,
lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai
:9“Nó cậy Chúa, mặc Người cứu nó!
Người có thương, giải gỡ đi nào!”

Đ.Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa,
Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?

17Cả bầy chó trong ngoài vây bủa,
chúng đâm con thủng cả chân tay,
18xương con đếm được vắn dài,
chúng đưa cặp mắt cứ hoài ngó xem.

Đ.Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa,
Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?

19Áo mặc ngoài chúng đem chia chác,
còn áo trong cũng bắt thăm luôn.
20Chúa là sức mạnh con nương,
cứu mau, lạy Chúa, xin đừng đứng xa.

Đ.Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa,
Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?

23Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa
cho anh em tất cả được hay,
và trong đại hội dân Ngài,
con xin dâng tiến một bài tán dương.

Đ.Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa,
Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?

24Hỡi những ai kính sợ Đức Chúa, hãy ca tụng Người đi!
Hỡi toàn thể giống nòi Gia-cóp, nào hãy tôn vinh Người!
Dòng dõi Ít-ra-en tất cả, nào một dạ khiếp oai!

Đ.Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa,
Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?

 

Bài đọc 2: Pl 2,6-11

Đức Ki-tô đã tự khiêm tự hạ, nên Thiên Chúa đã siêu tôn Người.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Phi-líp-phê.

6Đức Giê-su Ki-tô
vốn dĩ là Thiên Chúa
mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,

7nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang
mặc lấy thân nô lệ,
trở nên giống phàm nhân
sống như người trần thế.

8Người lại còn hạ mình,
vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,
chết trên cây thập tự.

9Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người
và tặng ban danh hiệu
trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.

10Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giê-su,
cả trên trời dưới đất
và trong nơi âm phủ,
muôn vật phải bái quỳ;

11và để tôn vinh Thiên Chúa Cha,
mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng
:
“Đức Giê-su Ki-tô là Chúa”.

 

Dấu ký hiệu viết tắt:

: Đức Giê-su

nk: người kể

m: một người

dc: dân chúng

 

Tin mừng: Mt 26,14 – 27,66 

2614nk Khi ấy, một người trong Nhóm Mười Hai tên là Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, đi gặp các thượng tế 15 mà nói: m “Tôi nộp ông Giê-su cho quý vị, thì quý vị muốn cho tôi bao nhiêu.” nk Họ quyết định cho hắn ba mươi đồng bạc.

16 Từ lúc đó, hắn cố tìm dịp thuận tiện để nộp Đức Giê-su.

17nk Ngày thứ nhất trong tuần bánh không men, các môn đệ đến thưa với Đức Giê-su:

m “Thầy muốn chúng con dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?”

18nk Người bảo:  “Các anh đi vào thành, đến nhà một người kia và nói với ông ấy: Thầy nhắn: thời của Thầy đã gần tới, Thầy sẽ đến nhà ông để ăn mừng lễ Vượt Qua với các môn đệ của Thầy.”

19nk Các môn đệ làm y như Đức Giê-su đã truyền, và dọn tiệc Vượt Qua.

20nk Chiều đến, Đức Giê-su vào bàn tiệc với mười hai môn đệ.

21 Đang bữa ăn, Người nói:  “Thầy bảo thật anh em, một người trong anh em sẽ nộp Thầy.”

22nk Các môn đệ buồn rầu quá sức, lần lượt hỏi Người: m “Thưa Ngài, chẳng lẽ con sao?”

23nk Người đáp:  “Kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với Thầy, đó là kẻ nộp Thầy.

24 Đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn!” 25nk Giu-đa, kẻ nộp Người cũng hỏi:

m “Ráp-bi, chẳng lẽ con sao?” nk Người trả lời:  “Chính anh nói đó!”

26nk Cũng trong bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ và nói:  “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy.”

27nk Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói:  “Tất cả anh em hãy uống chén này, 28 vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội.

29 Thầy bảo cho anh em biết: từ nay, Thầy không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày Thầy cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy.”

30nk Hát thánh vịnh xong, Đức Giê-su và các môn đệ ra núi Ô-liu.

31 Bấy giờ Đức Giê-su nói với các ông:  “Đêm nay tất cả anh em sẽ vấp ngã vì Thầy. Vì có lời đã chép: Ta sẽ đánh người chăn chiên, và đàn chiên sẽ tan tác.

32 Nhưng sau khi trỗi dậy, Thầy sẽ đến Ga-li-lê trước anh em.”

33nk Ông Phê-rô liền thưa:

m “Dầu tất cả có vấp ngã vì Thầy đi nữa, thì con đây cũng chẳng bao giờ vấp ngã.”

34nk Đức Giê-su bảo ông:  “Thầy bảo thật anh: nội đêm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần.”

35nk Ông Phê-rô lại nói:

m “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy.” nk Tất cả các môn đệ cũng đều nói như vậy.

36nk Bấy giờ Đức Giê-su đi cùng với các ông đến một thửa đất gọi là Ghết-sê-ma-ni. Người nói với các môn đệ:  “Anh em ngồi lại đây, Thầy đến đàng kia cầu nguyện.”

37nk Rồi Người đưa ông Phê-rô và hai người con ông Dê-bê-đê đi theo. Người bắt đầu cảm thấy buồn rầu xao xuyến.

38 Bấy giờ Người nói với các ông:  “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy.”

39nk Người đi xa hơn một chút, sấp mặt xuống, cầu nguyện rằng:  “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.”

40nk Rồi Người đến chỗ các môn đệ, thấy các ông đang ngủ, liền nói với ông Phê-rô:  “Thế ra anh em không thể canh thức nổi với Thầy một giờ sao?

41 Anh em hãy canh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn.”

42nk Người lại đi cầu nguyện lần thứ hai và nói:  “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha.”

43nk Rồi Người lại đến, thấy các môn đệ vẫn đang ngủ, vì mắt họ nặng trĩu.

44 Người để mặc các ông mà đi cầu nguyện lần thứ ba, nói lại cũng một lời đó.

45 Bấy giờ Người đến chỗ các môn đệ và nói với các ông:  “Lúc này mà còn ngủ, còn nghỉ sao? Này, đến giờ Con Người bị nộp vào tay những kẻ tội lỗi.

46 Đứng dậy, ta đi nào! Kìa kẻ nộp Thầy đã tới!”

47nk Người còn đang nói, thì Giu-đa, một người trong nhóm Mười Hai, đã đến. Cùng đi với hắn, có cả một đám người đông đảo mang gươm giáo gậy gộc. Họ được các thượng tế và kỳ mục trong dân sai đến.

48 Kẻ nộp Người đã cho họ một dấu hiệu, hắn dặn rằng: m “Tôi hôn ai thì chính là người đó. Các anh bắt lấy!”

49nk Ngay lúc đó, Giu-đa tiến lại gần Đức Giê-su và nói: m “Ráp-bi, xin chào Thầy!”, nk rồi hôn Người.

50 Đức Giê-su bảo hắn:  “Này bạn, bạn đến đây làm gì thì cứ làm đi!” nk Bấy giờ họ tiến đến, tra tay bắt Đức Giê-su.

51 Một trong những kẻ theo Đức Giê-su liền vung tay tuốt gươm ra, chém phải tên đầy tớ của thượng tế, làm nó đứt tai.

52 Đức Giê-su bảo người ấy:  “Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm.

53 Hay anh tưởng là Thầy không thể kêu cứu với Cha Thầy sao? Người sẽ cấp ngay cho Thầy hơn mười hai đạo binh thiên thần!

54 Nhưng như thế, thì lời Kinh Thánh ứng nghiệm sao được? Vì theo đó, mọi sự phải xảy ra như vậy.”

55nk Vào giờ ấy Đức Giê-su nói với đám đông:  “Tôi là một tên cướp hay sao, mà các ông đem gươm giáo gậy gộc đến bắt? Ngày ngày tôi vẫn ngồi giảng dạy ở Đền Thờ thì các ông không bắt.

56 Nhưng tất cả sự việc này xảy ra là để ứng nghiệm những lời chép trong Sách Các Ngôn Sứ.” nk Bấy giờ các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết.

57nk Họ bắt Đức Giê-su, rồi điệu đến thượng tế Cai-pha. Các kinh sư và kỳ mục đã tề tựu sẵn đó.

58 Ông Phê-rô theo Người xa xa, đến tận dinh thượng tế. Ông vào bên trong ngồi với bọn thuộc hạ, xem kết cuộc ra sao.

59nk Còn các thượng tế và toàn thể Thượng Hội Đồng thì tìm chứng gian buộc tội Đức Giê-su để lên án tử hình.

60 Nhưng họ tìm không ra, mặc dầu có nhiều kẻ đã đứng ra làm chứng gian. Sau cùng, có hai người bước ra, 61 khai rằng: m “Tên này đã nói: tôi có thể phá Đền Thờ Thiên Chúa, và nội trong ba ngày, sẽ xây cất lại.”

62nk Bấy giờ vị thượng tế đứng lên hỏi Đức Giê-su: m “Ông không nói lại được một lời sao? Mấy người này tố cáo ông gì đó?”

63nk Nhưng Đức Giê-su vẫn làm thinh. Vị thượng tế nói với Người:

m “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi truyền cho ông phải nói cho chúng tôi biết: ông có phải là Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa không?”

64nk Đức Giê-su trả lời:  “Chính ngài vừa nói. Hơn nữa, tôi nói cho các ông hay: từ nay, các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến.”

65nk Bấy giờ vị thượng tế liền xé áo mình ra và nói: m “Hắn nói phạm thượng! Chúng ta cần gì nhân chứng nữa? Đấy, quý vị vừa nghe hắn nói phạm đến Thiên Chúa, 66 quý vị nghĩ sao?” nk Họ liền đáp: dc “Hắn đáng chết!”

67nk Rồi họ khạc nhổ vào mặt và đấm đánh Người. Có kẻ lại tát Người 68 và nói: m “Ông Ki-tô ơi, hãy nói tiên tri cho chúng tôi nghe đi: ai đánh ông đó?”

69nk Lúc đó ông Phê-rô đang ngồi ngoài sân. Một người đầy tớ gái đến bên ông và nói: m “Cả bác nữa, bác cũng đã ở với ông Giê-su, người Ga-li-lê đó chứ gì?”

70nk Ông liền chối trước mặt mọi người mà nói: m “Tôi không biết cô nói gì!”

71nk Ông đi ra đến cổng, thì một người tớ gái khác thấy ông, liền nói với những người ở đó: m “Bác này cũng đã ở với ông Giê-su người Na-da-rét đấy.”

72nk Nhưng ông Phê-rô lại thề mà chối: m “Tôi không biết người ấy.”

73nk Một lát sau, những người đứng đó xích lại gần ông Phê-rô mà nói: m “Đúng là bác cũng thuộc bọn họ. Cứ nghe giọng nói của bác là biết ngay.”

74nk Bấy giờ ông Phê-rô liền thề độc mà quả quyết rằng: m “Tôi thề là không biết người ấy.” nk Ngay lúc đó, có tiếng gà gáy.

75 Ông Phê-rô sực nhớ lời Đức Giê-su đã nói: “Gà chưa kịp gáy thì anh đã chối Thầy ba lần.” Ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết.

271nk Trời vừa sáng, tất cả các thượng tế và kỳ mục trong dân cùng nhau bàn kế hại Đức Giê-su, để xử tử Người.

2 Sau đó, họ cho trói Người lại và giải đi nộp cho tổng trấn Phi-la-tô.

3nk Bấy giờ, Giu-đa, kẻ đã nộp Người, thấy Người bị kết án thì hối hận. Hắn đem ba mươi đồng bạc trả lại cho các thượng tế và kỳ mục 4 mà nói: m “Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến Người phải chết oan.” nk Nhưng họ đáp: m “Can gì đến chúng tôi. Mặc kệ anh!”

5nk Giu-đa ném số bạc vào Đền Thờ và ra đi thắt cổ.

6 Các thượng tế lượm lấy số bạc ấy mà nói: m “Không được phép bỏ vào quỹ Đền Thờ, vì đây là giá máu.”

7nk Sau khi bàn định với nhau, họ dùng tiền đó tậu “Thửa Ruộng Ông Thợ Gốm” để làm nơi chôn cất khách ngoại kiều.

8 Vì vậy mà thửa ruộng ấy gọi là “Ruộng Máu” cho đến ngày nay.

9 Thế là ứng nghiệm lời ngôn sứ Giê-rê-mi-a: “Họ đã lượm lấy ba mươi đồng bạc, tức là cái giá mà một số con cái Ít-ra-en đã đặt khi đánh giá Người.

10 Và họ lấy số bạc đó mà mua “Thửa Ruộng Ông Thợ Gốm”, theo những điều Đức Chúa đã truyền cho tôi.”

11nk Đức Giê-su bị điệu ra trước mặt tổng trấn; tổng trấn hỏi Người: m “Ông là vua dân Do-thái sao?” nk Đức Giê-su trả lời:  “Chính ngài nói đó.”

12nk Nhưng khi các thượng tế và kỳ mục tố Người, thì Người không trả lời một tiếng.

13 Bấy giờ ông Phi-la-tô hỏi Người: m “Ông không nghe bao nhiêu điều họ làm chứng chống lại ông đó sao?”

14nk Nhưng Đức Giê-su không trả lời ông về một điều nào, khiến tổng trấn rất đỗi ngạc nhiên.

15nk Vào mỗi dịp lễ lớn, tổng trấn có lệ phóng thích cho dân chúng một người tù, tuỳ ý họ muốn.

16 Mà khi ấy có một người tù khét tiếng, tên là Ba-ra-ba.

17 Vậy khi đám đông đã tụ họp lại, thì tổng trấn Phi-la-tô nói với họ: m “Các người muốn ta phóng thích ai cho các người đây? Ba-ra-ba hay Giê-su, cũng gọi là Ki-tô?”

18nk Bởi ông thừa biết chỉ vì ghen tị mà họ nộp Người.

19nk Lúc tổng trấn đang ngồi xử án, thì bà vợ sai người đến nói với ông: m “Ông đừng nhúng tay vào vụ xử người công chính này, vì hôm nay, tôi chiêm bao thấy mình phải khổ nhiều vì ông ấy.”

20nk Nhưng các thượng tế và kỳ mục lại xúi đám đông đòi tha tên Ba-ra-ba mà giết Đức Giê-su.

21 Tổng trấn hỏi họ: m “Trong hai người này, các người muốn ta tha ai cho các người?” nk Họ thưa: dc “Ba-ra-ba!”

22nk Tổng trấn Phi-la-tô nói tiếp: m “Thế còn ông Giê-su, cũng gọi là Ki-tô, ta sẽ làm gì đây?” nk Mọi người đồng thanh: dc “Đóng đinh nó vào thập giá!”

23nk Tổng trấn lại nói: m “Thế ông ấy đã làm điều gì gian ác?” nk Họ càng la to: dc “Đóng đinh nó vào thập giá!”

24nk Tổng trấn Phi-la-tô thấy đã chẳng được ích gì mà còn thêm náo động, nên lấy nước rửa tay trước mặt đám đông mà nói: m “Ta vô can trong vụ đổ máu người này. Mặc các người liệu lấy!”

25nk Toàn dân đáp lại: dc “Máu hắn cứ đổ xuống đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi!”

26nk Bấy giờ, tổng trấn phóng thích tên Ba-ra-ba cho họ, còn Đức Giê-su, thì ông truyền đánh đòn, rồi trao cho họ đóng đinh vào thập giá.

27nk Bấy giờ lính của tổng trấn đem Đức Giê-su vào trong dinh, và tập trung cả cơ đội quanh Người.

28 Chúng lột áo Người ra, khoác cho Người một tấm áo choàng đỏ, 29 rồi kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người, và trao vào tay mặt Người một cây sậy. Chúng quỳ gối trước mặt Người mà nhạo rằng: dc “Vạn tuế Đức Vua dân Do-thái!”

30nk Rồi chúng khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy mà đập vào đầu Người.

31 Chế giễu chán, chúng lột áo choàng ra, và cho Người mặc áo lại như trước, rồi điệu Người đi đóng đinh vào thập giá.

32nk Đang đi ra, thì chúng gặp một người Ky-rê-nê, tên là Si-môn; chúng bắt ông vác thập giá của Người.

33 Khi đến nơi gọi là Gôn-gô-tha, nghĩa là Đồi Sọ, 34 chúng cho Người uống rượu pha mật đắng, nhưng Người chỉ nếm một chút mà không chịu uống.

35 Đóng đinh Người vào thập giá xong, chúng đem áo Người ra bắt thăm mà chia nhau.

36 Rồi chúng ngồi đó mà canh giữ Người.

37nk Phía trên đầu Người, chúng đặt bản án xử tội viết rằng: “Người này là Giê-su, vua dân Do-thái.”

38 Cùng bị đóng đinh với Người có hai tên cướp, một tên bên phải, một tên bên trái.

39nk Kẻ qua người lại đều nhục mạ Người, vừa lắc đầu 40 vừa nói: m “Mi là kẻ phá được Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, hãy cứu lấy mình đi! Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào!”

41nk Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục cũng chế giễu Người mà nói: 42 m “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là Vua Ít-ra-en! Hắn cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, chúng ta tin hắn liền!

43 Hắn cậy vào Thiên Chúa, thì bây giờ Người cứu hắn đi, nếu quả thật Người thương hắn! Vì hắn đã nói: “Ta là Con Thiên Chúa!”

44nk Cả những tên cướp cùng bị đóng đinh với Người cũng sỉ vả Người như thế.

45nk Từ giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ cả mặt đất, mãi đến giờ thứ chín. 46 Vào giờ thứ chín, Đức Giê-su kêu lớn tiếng:  “Ê-li, Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni”, nk nghĩa là  “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”

47nk Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói: m “Hắn ta gọi ông Ê-li-a!”

48nk Lập tức, một người trong bọn chạy đi lấy miếng bọt biển, thấm đầy giấm, buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống. 49 Còn những người khác lại bảo: m “Khoan đã, để xem ông Ê-li-a có đến cứu hắn không!”

50nk Đức Giê-su lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn.

(quỳ gối thinh lặng trong giây lát)

51nk Ngay lúc đó, bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Đất rung, đá vỡ.

52 Mồ mả bật tung, và xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được trỗi dậy.

53 Sau khi Chúa trỗi dậy, các ngài ra khỏi mồ, vào thành thánh, và hiện ra với nhiều người.

54 Thấy động đất và các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giê-su đều rất đỗi sợ hãi và nói: m “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa.”

55nk Ở đó, cũng có nhiều người phụ nữ đứng nhìn từ đàng xa. Các bà này đã theo Đức Giê-su từ Ga-li-lê để giúp đỡ Người.

56 Trong số đó, có bà Ma-ri-a Mác-đa-la, bà Ma-ri-a mẹ các ông Gia-cô-bê và Giô-xếp, và bà mẹ các con ông Dê-bê-đê.

57nk Chiều đến, có một người giàu sang tới. Ông này là người thành A-ri-ma-thê, tên là Giô-xếp, và cũng là môn đệ Đức Giê-su.

58 Ông đến gặp ông Phi-la-tô để xin thi hài Đức Giê-su. Bấy giờ tổng trấn Phi-la-tô ra lệnh trao trả thi hài cho ông.

59 Khi đã nhận thi hài, ông Giô-xếp lấy tấm vải gai sạch mà liệm, 60 và đặt vào ngôi mộ mới, đã đục sẵn trong núi đá, dành cho ông. Ông lăn tảng đá to lấp cửa mồ, rồi ra về.

61 Còn bà Ma-ri-a Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Ma-ri-a ở lại đó, quay mặt vào mồ.

62nk Hôm sau, tức là khi ngày áp lễ đã qua, các thượng tế và những người Pha-ri-sêu kéo nhau đến ông Phi-la-tô, 63 và nói: m “Thưa ngài, chúng tôi nhớ tên bịp bợm ấy khi còn sống có nói: “Sau ba ngày, Ta sẽ trỗi dậy.”

64 Vậy xin quan lớn truyền canh mộ kỹ càng cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắn đến lấy trộm xác rồi phao trong dân là hắn đã từ cõi chết trỗi dậy. Và như thế, chuyện bịp cuối cùng này sẽ còn tệ hại hơn chuyện trước.”

65nk Ông Phi-la-tô bảo họ: m “Thì có sẵn lính đó, các người hãy đi mà canh giữ theo cách các người biết!”

66nk Thế là họ ra đi canh giữ mồ, niêm phong tảng đá và cắt lính canh mồ.

GIÁO LÝ CHO BÀI GIẢNG CHÚA NHẬT LỄ LÁ NĂM A

Văn Việt

WHĐ (01/4/2023) – Để hỗ trợ các nhà giảng thuyết thuận tiện hơn trong việc thêm giáo lý vào bài giảng, Ban Biên tập xin được trích dẫn lại những điểm giáo lý phù hợp với các bài đọc Kinh thánh của Chúa nhật lễ Lá năm A theo sự theo hướng dẫn của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích.

Số 557-560: Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem

Số 602-618: Cuộc khổ nạn của Đức Kitô

Số 2816: Vương quyền của Đức Kitô đạt được nhờ cái chết và sự Phục Sinh của Người

Số 654, 1067-1068, 1085, 1362: Mầu Nhiệm Vượt Qua và phụng vụ

Bài Phúc Âm: Mt 21, 1-11 (trước khi đi rước)

Bài Ðọc I: Is 50, 4-7

Bài Ðọc II: Pl 2, 6-11

Bài Thương Khó: Mt 26, 14 – 27, 66 (bài dài)

Bài Thương Khó: Mt 27, 11-54

Số 557-560: Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem

557. “Khi đã tới ngày Chúa Giêsu được rước lên trời, Người nhất quyết đi lên Giêrusalem” (Lc 9,5l)Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật lễ Lá năm A (02/4/2023) – Đấng bị bỏ rơi không bỏ mặc ai một mình

Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật lễ Lá năm A (05/4/2020) – Bị phản bội và bị ruồng bỏ

Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật lễ Lá năm A (09/4/2017) – Gương mặt của Chúa Giêsu, Vua Cứu Thế

Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật lễ Lá năm A (13/4/2014) – Tôi là ai?

Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng Chúa nhật lễ Lá năm A (17/4/2011) – Hướng mình lên cao

Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng Chúa nhật lễ Lá năm A (16/3/2008) – Đền Thờ mới trong Đức Kitô

Suy niệm (TGM Giuse Nguyễn Năng)

Suy niệm: Ðức Giêsu được rước vào thành thánh cách long trọng, nhưng cũng chính trong vinh quang này lại mở màn cho cuộc khổ nạn đau thương! Thật không thể hiểu nổi một Ðấng Cứu Thế lại có thể bị ngược đãi, nhục hình! Cũng không thể tin nổi được lòng dạ con người mau đổi trắng thay đen! Tung hô đó để rồi đả đảo ngay. Nhưng tại sao Thiên Chúa lại để cho Con của Ngài phải chấp nhận cái nhục nhã và tủi sầu đến thế? Ðức Giêsu suốt một đời sống vì con người, sống cho con người, lại phải kết thúc cuộc đời giữa tiếng la ó đả đảo kết án của con người. Cuộc đời Ngài cay đắng vậy sao?

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, trong tuần lễ này, toàn thể Giáo Hội chúng con lặng lẽ dõi bước theo Chúa đi vào con đường khổ nạn. Âm thầm nhìn Chúa bị treo trên đồi cao… chỉ vì hạnh phúc của chúng con. Ôi một tuần hồng phúc. Xin cho chúng con sống trọn tuần này với lòng cảm mến nồng nàn, lòng biết ơn sâu xa. Xin cho chúng con luôn trung thành và đặt niềm tin tuyệt đối vào Chúa. Chúa đã sống vì yêu, chết vì yêu và chỉ trong tình yêu mới tạo sức sống cho cuộc đời. Amen.

Ghi nhớ: “Chúc tụng Ðấng nhân danh Chúa mà đến”.

Suy niệm: Ðức Giêsu đến Bêtania để cho Lazarô chết bốn ngày sống lại. Ngài tuyên bố với Mácta rằng: “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta dầu có chết cũng sẽ được sống. “Ðức Giêsu là sự sống. Trong Ngài chúng ta mới được hạnh phúc, được trường sinh vĩnh cửu.

Muốn được sống đời đời với Ðức Giêsu, ngay từ đời này ta phải sống bằng sự sống của Ngài: Tức là sống trong ơn thánh, lãnh nhận các bí tích, thực thi bác ái, hy sinh và chuyên cần cầu nguyện.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu là sự sống và là sự phục sinh của chúng con. Xin Chúa dạy chúng con biết tìm kiếm cho mình sự sống vĩnh cửu ngay từ đời này. Theo gương Chúa, chúng con dám từ bỏ con người ích kỷ và tận tâm tìm kiếm Chúa bằng đời sống cầu nguyện, hy sinh, và bác ái. Amen.

Ghi nhớ: “Ta là sự sống lại và là sự sống”.

 

Suy niệm (Lm I-nha-xi-ô Hồ Văn Xuân)

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Is 50,4-7

Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ, tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng.

Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.

4 Đức Chúa là Chúa Thượng
đã cho tôi nói năng như một người môn đệ,
để tôi biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức.
Sáng sáng Người đánh thức, Người đánh thức tôi
để tôi lắng tai nghe như một người môn đệ.
5 Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi,
còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui.
6 Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn,
giơ má cho người ta giật râu.
Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ.
7 Có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi,
vì thế, tôi đã không hổ thẹn,
vì thế, tôi trơ mặt ra như đá.
Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng.

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 21,7-9.17-18.19-20.23.24 (Đ. c.2a)

Đ. Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa, Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao ?

7 Thân sâu bọ chứ người đâu phải, con bị đời mắng chửi dể duôi.
8 Thấy con ai cũng chê cười,
lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai :
9 “Nó cậy Chúa, mặc Người cứu nó !
Người có thương, giải gỡ đi nào !” Đ.

17 Cả bầy chó trong ngoài vây bủa,
chúng đâm con thủng cả chân tay,
18 xương con đếm được vắn dài,
chúng đưa cặp mắt cứ hoài ngó xem. Đ.

19 Áo mặc ngoài chúng đem chia chác,
còn áo trong cũng bắt thăm luôn.
20 Chúa là sức mạnh con nương,
cứu mau, lạy Chúa, xin đừng đứng xa. Đ.

23 Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa
cho anh em tất cả được hay,
và trong đại hội dân Ngài,
con xin dâng tiến một bài tán dương. Đ.

24 Hỡi những ai kính sợ Đức Chúa,
hãy ca tụng Người đi !
Hỡi toàn thể giống nòi Gia-cóp,
nào hãy tôn vinh Người !
Dòng dõi Ít-ra-en tất cả, nào một dạ khiếp oai ! Đ.

 

Bài đọc 2 : Pl 2,6-11

Đức Ki-tô đã tự khiêm tự hạ, nên Thiên Chúa đã siêu tôn Người.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Phi-líp-phê.

6 Đức Giê-su Ki-tô
vốn dĩ là Thiên Chúa
mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
7 nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang
mặc lấy thân nô lệ,
trở nên giống phàm nhân
sống như người trần thế.
8 Người lại còn hạ mình,
vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.
9 Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu
trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.
10 Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giê-su,
cả trên trời dưới đất
và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ ;
11 và để tôn vinh Thiên Chúa Cha,
mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng :
“Đức Giê-su Ki-tô là Chúa.”

Đó là lời Chúa.

 

Tung hô Tin mừng : Pl 2,8-9

Vì chúng ta, Đức Ki-tô đã tự hạ, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.

 

Tin mừng : Mt 26,14–27,66

X Cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

26 14 nk Khi ấy, một người trong Nhóm Mười Hai tên là Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, đi gặp các thượng tế 15 mà nói : m “Tôi nộp ông Giê-su cho quý vị, thì quý vị muốn cho tôi bao nhiêu ?” nk Họ quyết định cho hắn ba mươi đồng bạc. 16 Từ lúc đó, hắn cố tìm dịp thuận tiện để nộp Đức Giê-su.

17 nk Ngày thứ nhất trong tuần bánh không men, các môn đệ đến thưa với Đức Giê-su : m “Thầy muốn chúng con dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu ?” 18 nk Người bảo : X“Các anh đi vào thành, đến nhà một người kia và nói với ông ấy : Thầy nhắn : thời của Thầy đã gần tới, Thầy sẽ đến nhà ông để ăn mừng lễ Vượt Qua với các môn đệ của Thầy.” 19 nk Các môn đệ làm y như Đức Giê-su đã truyền, và dọn tiệc Vượt Qua.

20 nk Chiều đến, Đức Giê-su vào bàn tiệc với mười hai môn đệ. 21 Đang bữa ăn, Người nói : X“Thầy bảo thật anh em, một người trong anh em sẽ nộp Thầy.” 22 nk Các môn đệ buồn rầu quá sức, lần lượt hỏi Người : m “Thưa Ngài, chẳng lẽ con sao ?” 23 nk Người đáp : X “Kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với Thầy, đó là kẻ nộp Thầy. 24 Đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người : thà nó đừng sinh ra thì hơn !” 25 nk Giu-đa, kẻ nộp Người cũng hỏi : m “Ráp-bi, chẳng lẽ con sao ?” nk Người trả lời : X “Chính anh nói đó !”

26 nk Cũng trong bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ và nói : X “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy.” 27 nk Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói : X “Tất cả anh em hãy uống chén này, 28 vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội. 29 Thầy bảo cho anh em biết : từ nay, Thầy không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày Thầy cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy.”

30 nk Hát thánh vịnh xong, Đức Giê-su và các môn đệ ra núi Ô-liu. 31 Bấy giờ Đức Giê-su nói với các ông : X “Đêm nay tất cả anh em sẽ vấp ngã vì Thầy. Vì có lời đã chép : Ta sẽ đánh người chăn chiên, và đàn chiên sẽ tan tác. 32 Nhưng sau khi trỗi dậy, Thầy sẽ đến Ga-li-lê trước anh em.” 33 nk Ông Phê-rô liền thưa : m “Dầu tất cả có vấp ngã vì Thầy đi nữa, thì con đây cũng chẳng bao giờ vấp ngã.” 34 nk Đức Giê-su bảo ông : X “Thầy bảo thật anh : nội đêm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần.” 35 nk Ông Phê-rô lại nói : m “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy.” nk Tất cả các môn đệ cũng đều nói như vậy.

36 nk Bấy giờ Đức Giê-su đi cùng với các ông đến một thửa đất gọi là Ghết-sê-ma-ni. Người nói với các môn đệ : X “Anh em ngồi lại đây, Thầy đến đàng kia cầu nguyện.” 37 nk Rồi Người đưa ông Phê-rô và hai người con ông Dê-bê-đê đi theo. Người bắt đầu cảm thấy buồn rầu xao xuyến. 38 Bấy giờ Người nói với các ông : X “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy.” 39 nk Người đi xa hơn một chút, sấp mặt xuống, cầu nguyện rằng : X “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” 40 nk Rồi Người đến chỗ các môn đệ, thấy các ông đang ngủ, liền nói với ông Phê-rô : X “Thế ra anh em không thể canh thức nổi với Thầy một giờ sao ? 41 Anh em hãy canh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn.” 42 nk Người lại đi cầu nguyện lần thứ hai và nói : X “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha.” 43 nk Rồi Người lại đến, thấy các môn đệ vẫn đang ngủ, vì mắt họ nặng trĩu. 44 Người để mặc các ông mà đi cầu nguyện lần thứ ba, nói lại cũng một lời đó. 45 Bấy giờ Người đến chỗ các môn đệ và nói với các ông : X “Lúc này mà còn ngủ, còn nghỉ sao ? Này, đến giờ Con Người bị nộp vào tay những kẻ tội lỗi. 46 Đứng dậy, ta đi nào ! Kìa kẻ nộp Thầy đã tới !”

47 nk Người còn đang nói, thì Giu-đa, một người trong nhóm Mười Hai, đã đến. Cùng đi với hắn, có cả một đám người đông đảo mang gươm giáo gậy gộc. Họ được các thượng tế và kỳ mục trong dân sai đến. 48 Kẻ nộp Người đã cho họ một dấu hiệu, hắn dặn rằng : m “Tôi hôn ai thì chính là người đó. Các anh bắt lấy !” 49 nk Ngay lúc đó, Giu-đa tiến lại gần Đức Giê-su và nói : m “Ráp-bi, xin chào Thầy !”, nk rồi hôn Người. 50 Đức Giê-su bảo hắn : X “Này bạn, bạn đến đây làm gì thì cứ làm đi !” nk Bấy giờ họ tiến đến, tra tay bắt Đức Giê-su. 51 Một trong những kẻ theo Đức Giê-su liền vung tay tuốt gươm ra, chém phải tên đầy tớ của thượng tế, làm nó đứt tai. 52 Đức Giê-su bảo người ấy : X “Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm. 53 Hay anh tưởng là Thầy không thể kêu cứu với Cha Thầy sao ? Người sẽ cấp ngay cho Thầy hơn mười hai đạo binh thiên thần ! 54 Nhưng như thế, thì lời Kinh Thánh ứng nghiệm sao được ? Vì theo đó, mọi sự phải xảy ra như vậy.” 55 nk Vào giờ ấy Đức Giê-su nói với đám đông : X “Tôi là một tên cướp hay sao, mà các ông đem gươm giáo gậy gộc đến bắt ? Ngày ngày tôi vẫn ngồi giảng dạy ở Đền Thờ thì các ông không bắt. 56 Nhưng tất cả sự việc này xảy ra là để ứng nghiệm những lời chép trong Sách Các Ngôn Sứ.” nk Bấy giờ các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết.

57 nk Họ bắt Đức Giê-su, rồi điệu đến thượng tế Cai-pha. Các kinh sư và kỳ mục đã tề tựu sẵn đó. 58 Ông Phê-rô theo Người xa xa, đến tận dinh thượng tế. Ông vào bên trong ngồi với bọn thuộc hạ, xem kết cuộc ra sao.

59 nk Còn các thượng tế và toàn thể Thượng Hội Đồng thì tìm chứng gian buộc tội Đức Giê-su để lên án tử hình. 60 Nhưng họ tìm không ra, mặc dầu có nhiều kẻ đã đứng ra làm chứng gian. Sau cùng, có hai người bước ra, 61 khai rằng : m “Tên này đã nói : tôi có thể phá Đền Thờ Thiên Chúa, và nội trong ba ngày, sẽ xây cất lại.” 62 nk Bấy giờ vị thượng tế đứng lên hỏi Đức Giê-su : m “Ông không nói lại được một lời sao ? Mấy người này tố cáo ông gì đó ?” 63 nk Nhưng Đức Giê-su vẫn làm thinh. Vị thượng tế nói với Người : m “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi truyền cho ông phải nói cho chúng tôi biết : ông có phải là Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa không ?” 64 nk Đức Giê-su trả lời : X “Chính ngài vừa nói. Hơn nữa, tôi nói cho các ông hay : từ nay, các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến.” 65 nk Bấy giờ vị thượng tế liền xé áo mình ra và nói : m “Hắn nói phạm thượng ! Chúng ta cần gì nhân chứng nữa ? Đấy, quý vị vừa nghe hắn nói phạm đến Thiên Chúa, 66 quý vị nghĩ sao ?” nk Họ liền đáp : dc “Hắn đáng chết !”

67 nk Rồi họ khạc nhổ vào mặt và đấm đánh Người. Có kẻ lại tát Người 68 và nói : m “Ông Ki-tô ơi, hãy nói tiên tri cho chúng tôi nghe đi : ai đánh ông đó ?”

69 nk Lúc đó ông Phê-rô đang ngồi ngoài sân. Một người đầy tớ gái đến bên ông và nói : m “Cả bác nữa, bác cũng đã ở với ông Giê-su, người Ga-li-lê đó chứ gì ?” 70 nk Ông liền chối trước mặt mọi người mà nói : m “Tôi không biết cô nói gì !”

71 nk Ông đi ra đến cổng, thì một người tớ gái khác thấy ông, liền nói với những người ở đó : m “Bác này cũng đã ở với ông Giê-su người Na-da-rét đấy.” 72 nk Nhưng ông Phê-rô lại thề mà chối : m “Tôi không biết người ấy.” 73 nk Một lát sau, những người đứng đó xích lại gần ông Phê-rô mà nói : m “Đúng là bác cũng thuộc bọn họ. Cứ nghe giọng nói của bác là biết ngay.”

74 nk Bấy giờ ông Phê-rô liền thề độc mà quả quyết rằng : m “Tôi thề là không biết người ấy.” nk Ngay lúc đó, có tiếng gà gáy. 75 Ông Phê-rô sực nhớ lời Đức Giê-su đã nói : “Gà chưa kịp gáy thì anh đã chối Thầy ba lần.” Ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết.

27 1 nk Trời vừa sáng, tất cả các thượng tế và kỳ mục trong dân cùng nhau bàn kế hại Đức Giê-su, để xử tử Người. 2 Sau đó, họ cho trói Người lại và giải đi nộp cho tổng trấn Phi-la-tô.

3 nk Bấy giờ, Giu-đa, kẻ đã nộp Người, thấy Người bị kết án thì hối hận. Hắn đem ba mươi đồng bạc trả lại cho các thượng tế và kỳ mục 4 mà nói : m “Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến Người phải chết oan.” nk Nhưng họ đáp : m “Can gì đến chúng tôi. Mặc kệ anh !” 5 nk Giu-đa ném số bạc vào Đền Thờ và ra đi thắt cổ. 6 Các thượng tế lượm lấy số bạc ấy mà nói : m “Không được phép bỏ vào quỹ Đền Thờ, vì đây là giá máu.” 7 nk Sau khi bàn định với nhau, họ dùng tiền đó tậu “Thửa Ruộng Ông Thợ Gốm” để làm nơi chôn cất khách ngoại kiều. 8 Vì vậy mà thửa ruộng ấy gọi là “Ruộng Máu” cho đến ngày nay. 9 Thế là ứng nghiệm lời ngôn sứ Giê-rê-mi-a : “Họ đã lượm lấy ba mươi đồng bạc, tức là cái giá mà một số con cái Ít-ra-en đã đặt khi đánh giá Người. 10 Và họ lấy số bạc đó mà mua “Thửa Ruộng Ông Thợ Gốm”, theo những điều Đức Chúa đã truyền cho tôi.”

11 nk Đức Giê-su bị điệu ra trước mặt tổng trấn ; tổng trấn hỏi Người : m “Ông là Vua dân Do-thái sao ?” nk Đức Giê-su trả lời : X “Chính ngài nói đó.” 12 nk Nhưng khi các thượng tế và kỳ mục tố Người, thì Người không trả lời một tiếng. 13 Bấy giờ ông Phi-la-tô hỏi Người : m “Ông không nghe bao nhiêu điều họ làm chứng chống lại ông đó sao ?” 14 nk Nhưng Đức Giê-su không trả lời ông về một điều nào, khiến tổng trấn rất đỗi ngạc nhiên.

15 nk Vào mỗi dịp lễ lớn, tổng trấn có lệ phóng thích cho dân chúng một người tù, tuỳ ý họ muốn. 16 Mà khi ấy có một người tù khét tiếng, tên là Ba-ra-ba. 17 Vậy khi đám đông đã tụ họp lại, thì tổng trấn Phi-la-tô nói với họ : m “Các người muốn ta phóng thích ai cho các người đây ? Ba-ra-ba hay Giê-su, cũng gọi là Ki-tô ?” 18 nk Bởi ông thừa biết chỉ vì ghen tị mà họ nộp Người.

19 nk Lúc tổng trấn đang ngồi xử án, thì bà vợ sai người đến nói với ông : m “Ông đừng nhúng tay vào vụ xử người công chính này, vì hôm nay, tôi chiêm bao thấy mình phải khổ nhiều vì ông ấy.”

20 nk Nhưng các thượng tế và kỳ mục lại xúi đám đông đòi tha tên Ba-ra-ba mà giết Đức Giê-su. 21 Tổng trấn hỏi họ : m “Trong hai người này, các người muốn ta tha ai cho các người ?” nk Họ thưa : dc “Ba-ra-ba !” 22 nk Tổng trấn Phi-la-tô nói tiếp : m “Thế còn ông Giê-su, cũng gọi là Ki-tô, ta sẽ làm gì đây ?” nk Mọi người đồng thanh : dc “Đóng đinh nó vào thập giá !” 23 nk Tổng trấn lại nói : m “Thế ông ấy đã làm điều gì gian ác ?” nk Họ càng la to : dc “Đóng đinh nó vào thập giá !” 24 nk Tổng trấn Phi-la-tô thấy đã chẳng được ích gì mà còn thêm náo động, nên lấy nước rửa tay trước mặt đám đông mà nói : m “Ta vô can trong vụ đổ máu người này. Mặc các người liệu lấy !” 25 nk Toàn dân đáp lại : dc “Máu hắn cứ đổ xuống đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi !” 26 nk Bấy giờ, tổng trấn phóng thích tên Ba-ra-ba cho họ, còn Đức Giê-su, thì ông truyền đánh đòn, rồi trao cho họ đóng đinh vào thập giá.

27 nk Bấy giờ lính của tổng trấn đem Đức Giê-su vào trong dinh, và tập trung cả cơ đội quanh Người. 28 Chúng lột áo Người ra, khoác cho Người một tấm áo choàng đỏ, 29 rồi kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người, và trao vào tay mặt Người một cây sậy. Chúng quỳ gối trước mặt Người mà nhạo rằng : dc “Vạn tuế Đức Vua dân Do-thái !” 30 nk Rồi chúng khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy mà đập vào đầu Người. 31 Chế giễu chán, chúng lột áo choàng ra, và cho Người mặc áo lại như trước, rồi điệu Người đi đóng đinh vào thập giá.

32 nk Đang đi ra, thì chúng gặp một người Ky-rê-nê, tên là Si-môn ; chúng bắt ông vác thập giá của Người. 33 Khi đến nơi gọi là Gôn-gô-tha, nghĩa là Đồi Sọ, 34 chúng cho Người uống rượu pha mật đắng, nhưng Người chỉ nếm một chút mà không chịu uống. 35 Đóng đinh Người vào thập giá xong, chúng đem áo Người ra bắt thăm mà chia nhau. 36 Rồi chúng ngồi đó mà canh giữ Người.

37 nk Phía trên đầu Người, chúng đặt bản án xử tội viết rằng : “Người này là Giê-su, Vua dân Do-thái.” 38 Cùng bị đóng đinh với Người có hai tên cướp, một tên bên phải, một tên bên trái.

39 nk Kẻ qua người lại đều nhục mạ Người, vừa lắc đầu 40 vừa nói : m “Mi là kẻ phá được Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, hãy cứu lấy mình đi ! Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào !” 41 nk Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục cũng chế giễu Người mà nói : 42 m “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là Vua Ít-ra-en ! Hắn cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, chúng ta tin hắn liền ! 43 Hắn cậy vào Thiên Chúa, thì bây giờ Người cứu hắn đi, nếu quả thật Người thương hắn ! Vì hắn đã nói : “Ta là Con Thiên Chúa !”

44 nk Cả những tên cướp cùng bị đóng đinh với Người cũng sỉ vả Người như thế.

45 nk Từ giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ cả mặt đất, mãi đến giờ thứ chín. 46 Vào giờ thứ chín, Đức Giê-su kêu lớn tiếng :

X “Ê-li, Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni”, nk nghĩa là X “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con ?” 47 nk Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói : m “Hắn ta gọi ông Ê-li-a !” 48 nk Lập tức, một người trong bọn chạy đi lấy miếng bọt biển, thấm đầy giấm, buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống. 49 Còn những người khác lại bảo : m “Khoan đã, để xem ông Ê-li-a có đến cứu hắn không !” 50 nk Đức Giê-su lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn.

(quỳ gối, thinh lặng trong giây lát)

51 nk Ngay lúc đó, bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Đất rung, đá vỡ. 52 Mồ mả bật tung, và xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được trỗi dậy. 53 Sau khi Chúa trỗi dậy, các ngài ra khỏi mồ, vào thành thánh, và hiện ra với nhiều người. 54 Thấy động đất và các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giê-su đều rất đỗi sợ hãi và nói : m “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa.”

55 nk Ở đó, cũng có nhiều người phụ nữ đứng nhìn từ đàng xa. Các bà này đã theo Đức Giê-su từ Ga-li-lê để giúp đỡ Người. 56 Trong số đó, có bà Ma-ri-a Mác-đa-la, bà Ma-ri-a mẹ các ông Gia-cô-bê và Giô-xếp, và bà mẹ các con ông Dê-bê-đê.

57 nk Chiều đến, có một người giàu sang tới. Ông này là người thành A-ri-ma-thê, tên là Giô-xếp, và cũng là môn đệ Đức Giê-su. 58 Ông đến gặp ông Phi-la-tô để xin thi hài Đức Giê-su. Bấy giờ tổng trấn Phi-la-tô ra lệnh trao trả thi hài cho ông. 59 Khi đã nhận thi hài, ông Giô-xếp lấy tấm vải gai sạch mà liệm, 60 và đặt vào ngôi mộ mới, đã đục sẵn trong núi đá, dành cho ông. Ông lăn tảng đá to lấp cửa mồ, rồi ra về. 61 Còn bà Ma-ri-a Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Ma-ri-a ở lại đó, quay mặt vào mồ.

62 nk Hôm sau, tức là khi ngày áp lễ đã qua, các thượng tế và những người Pha-ri-sêu kéo nhau đến ông Phi-la-tô, 63 và nói : m “Thưa ngài, chúng tôi nhớ tên bịp bợm ấy khi còn sống có nói : “Sau ba ngày, Ta sẽ trỗi dậy.” 64 Vậy xin quan lớn truyền canh mộ kỹ càng cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắn đến lấy trộm xác rồi phao trong dân là hắn đã từ cõi chết trỗi dậy. Và như thế, chuyện bịp cuối cùng này sẽ còn tệ hại hơn chuyện trước.” 65 nk Ông Phi-la-tô bảo họ : m “Thì có sẵn lính đó, các người hãy đi mà canh giữ theo cách các người biết !” 66 nk Thế là họ ra đi canh giữ mồ, niêm phong tảng đá và cắt lính canh mồ.

Đó là lời Chúa.

 

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Is 50,4-7

1. Hằng năm vào Chúa nhật lễ Lá, chúng ta đọc lại bản văn bất hủ về “Bài ca người tôi tớ” của ngôn sứ I-sai-a : bản văn khiến chúng ta, những người Ki-tô hữu thích thú vì hai lý do : trước tiên là sứ điệp mà ngôn sứ I-sai-a muốn gửi đến cho người đương thời với ông ; tiếp đến vì các Ki-tô hữu đầu tiên áp dụng cho Đức Giê-su Ki-tô.

Chúng ta bắt đầu với sứ điệp ngôn sứ I-sai-a muốn gửi đến cho những người đương thời với ông ; một điều chắc chắn là ngôn sứ I-sai-a không hề nghĩ đến Đức Giê-su Ki-tô khi viết bản văn này, có lẽ vào khoảng thế kỷ VI trước Công nguyên, trong thời gian lưu đày ở Ba-by-lon. Bởi vì dân tộc của ông, dân Ít-ra-en đang sống trong cảnh lưu đày, trong những điều kiện hết sức tồi tệ và khi họ gần như mất hết niềm hy vọng, thì ngôn sứ I-sai-a nhắc lại cho họ nhớ là họ vẫn luôn là tôi tớ của Thiên Chúa. Thiên Chúa vẫn luôn tin tưởng họ trong việc thực hiện cứu độ toàn thể nhân loại. Vì dân Ít-ra-en là tôi tớ của Thiên Chúa được nuôi dưỡng mỗi sáng bằng Lời Chúa, nhưng cũng bị bách hại vì niềm tin của mình và luôn đương đầu với tất cả mọi thử thách gian truân.

2. Trong bài đọc 1 hôm nay, ngôn sứ I-sai-a mô tả rõ mối liên hệ lạ lùng liên kết Người tôi tớ (Ít-ra-en) với Thiên Chúa. Đặc điểm chính là lắng nghe lời của Thiên Chúa, “lỗ tai đã được mở ra” như ngôn sứ I-sai-a đã nói ; “lắng nghe Lời Chúa”, nghĩa là để cho Lời Chúa giáo huấn, nghĩa là sống trong niềm tin. “Đức Chúa là Chúa Thượng đã cho tôi nói năng như một người môn đệ.” “Sáng sáng, Người đánh thức, Người đánh thức tôi, để tôi lắng nghe như một người môn đệ.” “Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi.”

“Lắng nghe” là một từ có nghĩa rất đặc biệt trong Kinh Thánh, có nghĩa là “tin tưởng”, người ta thường có thói quen đối chọi hai thái độ giữa những dao động không ngừng của cuộc đời : tin tưởng Thiên Chúa, phó thác mọi sự theo thánh ý Người vì đã có kinh nghiệm là thánh ý Chúa lúc nào cũng tốt, hoặc những cuộc đời không tin tưởng, nghi ngờ lòng nhân từ của Thiên Chúa và nổi loạn khi gặp thử thách gian truân vì nghĩ rằng Chúa đã bỏ rơi mình, hay tệ hơn nữa khi nghĩ sai lầm rằng Chúa hài lòng khi ta gặp đau khổ.

Các ngôn sứ, hết vị này đến vị khác, lặp đi lặp lại : “Hãy nghe đây, hỡi Ít-ra-en” hoặc “Hôm nay, các bạn hãy nghe lời Chúa phán”, và khi nói : “Hãy nghe đây”, các ngôn sứ mời gọi hãy tin tưởng vào Thiên Chúa dù xảy ra bất cứ việc gì đi nữa ; và thánh Phao-lô cho ta biết tại sao ta phải luôn tin tưởng Chúa, vì “Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người” (nghĩa là những ai tin tưởng Người). Giữa mọi khó khăn, thử thách, Người cho xuất hiện điều thiện hảo : giữa hận thù, Người biểu lộ một tình yêu mạnh hơn thù hận nhiều ; giữa những cơn bách hại, Người ban cho sức mạnh để tha thứ ; trước mọi cái chết, Người làm phát sinh sự sống, sự phục sinh.

3. Đó là câu chuyện của một sự tin tưởng lẫn nhau, Thiên Chúa tin tưởng tôi tớ Người và giao cho đương sự một sứ vụ ; đến lượt mình, Người tôi tớ đón nhận sứ mạng Chúa giao với lòng tin tưởng, và chính lòng tin tưởng này sẽ mang lại sức mạnh cần thiết để ta đương đầu với mọi thử thách gian truân không thể tránh khỏi trong cuộc sống thường ngày. Đây là sứ mạng của người làm chứng : “để tôi biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức”. Khi ta tin tưởng đón nhận sứ vụ này, Chúa sẽ ban cho sức mạnh cần thiết : “Chúa đã cho tôi nói năng như người môn đệ.” Hơn nữa, Người nuôi dưỡng lòng tin tưởng này để phục vụ anh em : “Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi”, điều đó muốn nói rằng lắng nghe (theo Kinh Thánh là tin tưởng) chính là ân huệ của Thiên Chúa. Tất cả là quà tặng : sứ vụ, sức mạnh, tin tưởng luôn vững bền. Đó là đặc điểm của người tín hữu nhìn nhận tất cả là ơn Chúa ban.

Và người luôn sống trong sự phù trợ của Thiên Chúa sẵn sàng đương đầu với mọi thử thách : “Tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui.” Lòng trung tín với sứ vụ đã được giao hiểu ngầm có đi kèm với bách hại, chẳng hạn như ngôn sứ I-sai-a nói với những người đồng hương của mình : Đức Chúa không hề bỏ rơi họ, trái lại, Người giao cho anh em một sứ vụ. Lúc bấy giờ, anh em đừng ngạc nhiên vì mình bị ngược đãi. Tại sao ? Bởi vì Người tôi tớ thật sự “lắng nghe Lời Chúa”, nghĩa là đem Lời Chúa ra thực hành, khiến người khác cực kỳ khó chịu vì bị quấy rầy. Sự hoán cải của họ mời gọi người khác hoán cải, người thì nghe, kẻ khác lại phản đối nên bách hại Người tôi tớ. Và mỗi sáng, Người tôi tớ tái nạp năng lượng nhờ Đấng ban cho họ sức mạnh để đương đầu với mọi nghịch cảnh. “Sáng sáng Người đánh thức, Người đánh thức tôi.” Thiên Chúa đến phù trợ tôi, vì thế tôi không hổ thẹn.

Tôi đã nói khi bắt đầu thì ngôn sứ I-sai-a ngỏ lời với những người đồng hương của ông đang bị bách hại, hạ nhục, trong cuộc lưu đày ở Ba-by-lon ; nhưng khi ta đọc lại cuộc Thương Khó của Đức Ki-tô, ta thấy ngay là Đức Ki-tô hoàn toàn phù hợp với dung mạo của Người Tôi Trung của Thiên Chúa. Luôn nghe lời Thiên Chúa, tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, và như thế là chắc chắn sẽ chiến thắng, ngay khi bị bách hại. Luôn đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót giữa muôn vàn thử thách gian truân của cuộc đời.

 

Đáp ca : Tv 21

1. Thánh vịnh 21 khiến ta ngạc nhiên : Thánh vịnh bắt đầu bằng một câu nổi tiếng : “Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa, Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao ?” đã làm tốn hao biết bao nhiêu giấy mực … và điều đáng tiếc là chúng ta thường hiểu không đúng về thánh vịnh này. Để có thể hiểu đúng, ta cần phải đọc hết thánh vịnh gồm 32 câu, nhưng ở đây chỉ trích một số câu mà thôi. Thánh vịnh 21 là một lời tạ ơn : “Vì Chúa đã thương nghe lời cầu cứu. Chịu ơn Người, tôi dâng lời ca tụng, ngày đại hội toàn dân.” Người kêu lên : “Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa, Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao ?” trong câu đầu, rồi tạ ơn trong những câu sau vì ơn cứu độ đã được ban, nghĩa là đương sự đã không chết, nhưng còn tạ ơn Chúa đã không bỏ rơi mình.

2. Tiếp đến, thoạt nhìn chúng ta tin rằng thánh vịnh 21 đã được soạn thảo cho Đức Giê-su Ki-tô : “Chúng đâm con thủng cả chân tay, xương con đếm được vắn dài.” Tác giả đề cập đến khổ hình của một người bị đóng đinh thập giá ; việc đó xảy ra trước những cặp mắt độc ác và có thể cả những cái nhìn bệnh hoạn của các đao phủ và đám đông : “Quanh con bầy chó đã bao chặt rồi, bọn ác đó trong ngoài vây bủa. Chúng đưa cặp mắt cứ hoài ngó xem. Áo mặc ngoài chúng đem chia chác, còn áo trong cũng bắt thăm luôn.”

Nhưng trong thực tế, thánh vịnh này không được viết cho Đức Giê-su Ki-tô : Thánh vịnh này đã được viết sau thời lưu đày ở Ba-by-lon. Cuộc hồi hương này được ví như cuộc phục sinh của một tử tội ; vì cuộc lưu đày ở Ba-by-lon lúc bấy giờ được coi là việc kết án tử hình dân Ít-ra-en ; suýt chút nữa thì họ bị xoá tên trên bản đồ thế giới.

Vì thế, trong thánh vịnh 21, dân Ít-ra-en được ví như một người bị kết án suýt bị đóng đinh trên thập giá. (Chúng ta đừng quên rằng khổ hình thập giá là một hình phạt rất phổ biến ; người bị kết án bị ngược đãi, hạ nhục, bị đóng đinh, bị bỏ mặc cho các đao phủ …). Và rồi, kỳ diệu thay, đương sự thoát khỏi khổ hình này, đương sự không chết. Ta có thể hiểu như sau : dân Ít-ra-en đã hồi hương từ chốn lưu đày ở Ba-by-lon. Cho nên từ nay về sau, họ bước đi trong niềm vui và nói cho mọi người biết họ đang vui, họ kêu còn lớn hơn lúc họ thốt lên lời tuyệt vọng. Câu chuyện đóng đinh không phải là trọng tâm của thánh vịnh 21, câu chuyện được đưa vào để làm nổi bật việc tạ ơn của dân Ít-ra-en vừa thoát khỏi cảnh kinh hoàng.

3. Giữa cơn tuyệt vọng, dân Ít-ra-en không ngừng kêu cầu Chúa và có lúc Ít-ra-en nghĩ rằng Thiên Chúa không nghe lời kêu cứu của mình. Lời kêu cầu to tiếng : “Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa, Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao ?” là một tiếng kêu xem ra tuyệt vọng trước sự im lặng của Thiên Chúa, nhưng thật ra đó không phải là một tiếng kêu tuyệt vọng, cũng không phải là một tiếng kêu nghi ngờ như ta nghĩ. Trái lại, đó là lời khẩn cầu của một người đang gặp đau khổ, dám thổ lộ sự đau khổ của mình. Đây là gương mẫu cho tất cả chúng ta khi gặp đau khổ dưới bất cứ hình thức nào. Kinh Thánh mời gọi chúng ta hãy kêu cầu Chúa.

Do đó, thánh vịnh 21 trong thực tế là một bài ca khi dân Ít-ra-en trở về từ cuộc lưu đày ở Ba-by-lon : Dân Ít-ra-en tạ ơn Chúa. Họ nhớ đến đau khổ đã qua, nỗi lo âu, sự im lặng của Thiên Chúa ; họ cảm thấy mình bị bỏ rơi cho kẻ thù hành hạ … Tuy nhiên họ vẫn tiếp tục cầu nguyện vì không mất hết niềm hy vọng. Dân Ít-ra-en tiếp tục nhớ lại Giao ước, nhớ lại những kỳ công Chúa đã làm.

Giáo Hội thời sơ khai đã áp dụng thánh vịnh này cho Đức Ki-tô. Đừng nản lòng, đừng tuyệt vọng khi gặp thử thách.

 

Bài đọc 2 : Pl 2,6-11

1. Bài đọc 2 hôm nay là một đoạn văn phong phú về ý nghĩa giáo lý, mục đích ca ngợi Đức Ki-tô và mầu nhiệm Đức Ki-tô : từ một vị Thiên Chúa, Người đã chọn làm một con người ; trong loài người, Người chọn làm thân nô lệ ; trong giới nô lệ, Người lại chọn cái chết trên thập giá hổ nhục. Vì thế, Người đã được tôn vinh, được cả vũ trụ tôn thờ và được một danh hiệu ngang hàng với Thiên Chúa. Đây có thể là một bài thánh thi của Hội Thánh sơ khai, được thánh Phao-lô sử dụng lại và sửa đổi đôi chút. Từ đời đời, Đức Giê-su Ki-tô vẫn là Thiên Chúa, Người có mọi quyền, mọi thuộc tính của một vị Thiên Chúa. Nhưng Người không coi những gì Người có quyền có như là những gì phải duy trì bằng bất cứ giá nào. Đức Giê-su đã khước từ mọi vinh quang Người có quyền có và làm cho mình hoá ra không khi trở nên một người như muôn vàn người khác, nghĩa là chia sẻ tất cả những yếu đuối của thân phận con người như đói khát, mệt nhọc, đau khổ và cả cái chết, chỉ trừ tội lỗi. Không những chính Người cảm nhận điều đó mà cả những ai sống chung quanh Người cũng thấy Người không có gì khác thường.

2. Không những Đức Giê-su mặc lấy thân nô lệ, sống vâng phục, điểm đặc biệt của người nô lệ ; Người còn đi đến tận cùng của đời sống vâng phục là đón nhận cả cái chết hổ nhục nhất. Từ địa vị Thiên Chúa vinh quang, Đức Giê-su đi xuống tận cùng thân phận của người nô lệ. Nhưng chính thái độ vâng phục của Đức Ki-tô đã chữa lành thái độ bất phục tùng của con người đầu tiên và cũng từ chỗ bị coi như thấp hèn nhất ấy, Thiên Chúa lại tôn vinh Người lên. Đức Ki-tô được Thiên Chúa tôn vinh vượt lên trên mọi loài thụ tạo, khi Người được Thiên Chúa cho phục sinh và lên ngự bên hữu Thiên Chúa.

3. “Thiên Chúa tặng ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu.” Đây là danh hiệu Chúa, vẫn được dành cho một mình Thiên Chúa. Nay nhờ được phục sinh, Đức Giê-su cũng được tặng ban danh hiệu đó. Bài thánh thi còn trích dẫn Is 5,23 : mọi gối phải quỳ xuống, mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng nói về thái độ của muôn loài muôn vật phải có đối với danh Thiên Chúa để áp dụng vào Đức Giê-su. Như vậy khi được ban tặng danh hiệu của Thiên Chúa và cử chỉ thờ lạy tôn vinh vẫn được dành cho một mình Thiên Chúa, Đức Giê-su, Người Tôi Tớ của Đức Chúa, đã được tôn vinh làm Chủ Tể vạn vật, vượt lên trên hết mọi loài. “Và để tôn vinh Thiên Chúa Cha”, câu này ở cuối bài thánh thi, có lẽ đó là một vinh tụng ca cuối thánh thi, chủ đích ca ngợi Thiên Chúa vì những công việc Đức Giê-su đã làm trên trần gian. “Đức Giê-su Ki-tô là Chúa.” Đây là lời tuyên xưng đức tin, tuyên xưng tính Thiên Chúa của Đức Giê-su Ki-tô.

 

Bài Thương Khó theo thánh Mát-thêu : Mt 26,14–27,66

Chúng ta cùng nhau suy niệm về các danh xưng của Chúa Giê-su trong bài Thương Khó theo thánh Mát-thêu.

1. Danh xưng thứ nhất : Vua dân Do-thái

Tổng trấn Phi-la-tô hỏi Chúa Giê-su : “Ông là Vua dân Do-thái sao ?” Chúa Giê-su trả lời : “Chính ngài nói đó.” Hình như đây là một cách xác nhận lời nói của tổng trấn Phi-la-tô là đúng sự thật. Trong Tin Mừng Mát-thêu, gần như đó là những lời cuối cùng của Chúa Giê-su trước khi chết trên thập giá : Khi kết thúc vụ án và khi Chúa Giê-su bị đóng đinh thập giá, Người không nói gì nữa lúc chết, Người chỉ nói một lời nguyện của dân tộc Người trong thánh vịnh 21 : “Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa, Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao ?” Chúng ta thấy đó là lời tạ ơn dân Ít-ra-en dâng lên Chúa vì họ nhận biết Thiên Chúa luôn cứu thoát họ, trong những lúc hiểm nguy nhất.

Danh xưng Vua dân Do-thái này còn được nhắc lại 3 lần nữa, nhưng luôn có tính mỉa mai để nhục mạ, để chế giễu Chúa Giê-su, đó là những người lính Rô-ma : họ rất thích thú khi gọi Người một cách chế nhạo là Vua, trong khi họ mới vừa đánh đòn Người, khoác cho Người một tấm áo choàng đỏ, rồi kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người và trao vào tay mặt Người một cây sậy. Chúng quỳ gối trước mặt Người mà nhạo rằng : “Vạn tuế Đức Vua dân Do-thái !” Chúng ta có thể hình dung, sau Phục Sinh, các Ki-tô hữu tiên khởi đã nhớ lại tấm thảm kịch này như thế nào : dù người Rô-ma cố gắng hạ nhục Chúa Giê-su nhưng họ không thể xoá bỏ ánh sáng vương quyền thật sự của Người. Chính thánh Mát-thêu đã kể lại lời của Chúa Giê-su : “sức mạnh của Tử thần không thể thắng được Người”.

Rồi phía trên đầu Chúa Giê-su, chúng đặt bản án xử tội viết rằng : “Người này là Giê-su, Vua dân Do-thái”. Thánh Mát-thêu có dịp nói cho các độc giả của mình ý nghĩa của tên Chúa Giê-su. Khi truyền tin cho thánh Giu-se về việc Chúa Giê-su giáng sinh, sứ thần báo cho thánh nhân : “Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21). Do đó, trên tấm bảng nhỏ, người ta ghi nhận tất cả mầu nhiệm của Đức Giê-su : là Vua và là Đấng cứu độ dân Người ; đó là điều mọi người ước mong nơi Đấng Mê-si-a. Cuối cùng, đối với các nhà lãnh đạo tôn giáo của Ít-ra-en, các tư tế, kinh sư và các kỳ lão đến lượt họ xác nhận Chúa Giê-su là “Vua Ít-ra-en”, chắc chắn là để chế nhạo Người, nhưng qua sự nhấn mạnh của mình, thánh Mát-thêu cho chúng ta hiểu rằng “họ không biết mình nói gì !”

2. Danh xưng thứ hai : Đấng Mê-si-a

Hai lần tổng trấn Phi-la-tô nói đến danh xưng này và đóng khung một xác quyết cũng rất quan trọng liên quan đến Chúa Giê-su, do vợ của tổng trấn Phi-la-tô, một phụ nữ ngoại giáo nói, bà nhận được một mặc khải, bà nói về một giấc mơ (chúng ta biết tầm quan trọng của giấc mơ trong Tin Mừng Mát-thêu). Bà này trao cho Chúa Giê-su danh xưng cao quý nhất của toàn thể Cựu Ước, danh xưng “người công chính”. Bà không hề biết tầm quan trọng của lời bà nói, nhưng sau này các Ki-tô hữu khi cử hành cái chết và sự phục sinh của Chúa Ki-tô đều biết rằng chính những người ngoại giáo, những người Rô-ma, là những người đầu tiên xác nhận căn tính của Chúa Giê-su vào lúc bề ngoài xem ra Người bị xoá tên khỏi lịch sử thế giới : “Người này đích thực là người công chính !” Bằng cách tuyên xưng Chúa Giê-su là người công chính, viên sĩ quan Rô-ma tuyên bố Chúa Giê-su vô tội, như ông Phi-la-tô đã làm ở Lc 23,4.14.22 : “Ta xét người này không có tội gì”, “Ta không thấy người này có tội gì như các ngươi tố cáo”, “Ta xét thấy ông ấy không có tội gì đáng chết.” Sau ba lần ông Phi-la-tô — cũng là người ngoại giáo — tuyên bố Chúa Giê-su vô tội, lời tuyên xưng của viên sĩ quan Rô-ma còn mạnh hơn : chẳng những vô tội mà còn là người công chính, và cho thấy Chúa Giê-su quả thật là Người Tôi Tớ đã mang án tội của muôn người, như ngôn sứ I-sai-a đã mô tả trong bốn bài ca về Người Tôi Tớ.

3. Cuối cùng, danh xưng thứ ba : Con Thiên Chúa

Trước hết được dùng để chế giễu, để nhục mạ bởi những người qua đường : “Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào !” Cả các thượng tế, kinh sư và kỳ mục cũng chế giễu Người : “Hắn cứu được thiên hạ mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là Vua Ít-ra-en ! Hắn cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, chúng ta tin hắn liền !” Nhưng danh xưng này được chính viên sĩ quan Rô-ma tuyên xưng : “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa.”

Ở đây hình như danh xưng này của Chúa Giê-su kết thúc câu chuyện Thương Khó. Câu nói trên của viên sĩ quan Rô-ma báo trước sự trở lại của dân ngoại, và chúng ta hiểu sứ điệp của thánh Mát-thêu : đối với thánh Mát-thêu, cái chết của Chúa Giê-su không hề là một thất bại nhưng là một chiến thắng. Nếu thánh Mát-thêu nhấn mạnh đến sự tương phản giữa sự yếu đuối của người bị kết án và sự cao thượng của vài người ngoại giáo đã nhận biết Chúa Giê-su là “Con Thiên Chúa”, giúp chúng ta hiểu rằng chính trong sự yếu đuối mà Chúa Giê-su bày tỏ sự cao cả của mình, sự cao cả của Thiên Chúa, nghĩa là tình yêu vô bờ của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Chúa Giê-su đã đem lại cho cái chết một ý nghĩa khi nói : “Không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu của người dám hy sinh mạng sống vì bạn hữu của mình.” Ta càng hiểu rõ câu này hơn nữa khi Chúa Giê-su nói với các môn đệ đi làng Em-mau ba ngày sau : “Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ?”

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, vì yêu thương chúng con mà Chúa đã tự nguyện bước vào cuộc Thương Khó, đón nhận cái chết đau đớn trên thập giá để chuộc tội cho thiên hạ và chuộc lại ơn làm nghĩa tử cho tất cả chúng con. Xin Chúa cho chúng con được thông phần vào cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Chúa.

Tự vấn :

Trong Tuần Thánh này, chúng ta sẽ làm gì để thông phần vào cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su, Đấng cứu độ chúng ta ?

 

C. BÀI ĐỌC THÊM

Đức Giê-su, Thiên Chúa không quyền lực

(H. Denis, “Voici l’Homme”, Desclée de Brouwer).

Vì Con Người, Đấng đã có thể gọi đến cả những sư đoàn thiên thần, vẫn chịu trói chân trói tay trước mặt quan Phi-la-tô.

Đức Giê-su bị xếp vào loại người không có thế lực, nghèo hèn, bệnh tật, bị loại trừ, để phục hồi nhân phẩm cho họ.

Đức Giê-su đã tích cực bảo vệ họ đến độ chọc tức cả những người tự cho mình có thế lực trước mặt Thiên Chúa hơn Người. Và chính những người ấy lại kêu gọi đến những thế lực trần gian này để làm cho Vị Ngôn Sứ trở thành bất lực. Đó là “xì-căng-đan” thánh giá.

Người đã cảnh báo các môn đệ của Người rằng giữa họ với nhau, và cả với người khác nữa, đừng bao giờ đè nặng lên nhau cái gánh mệnh lệnh. “Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ” (Mt 20,26-28).

Vâng, Đức Giê-su chính là Con Thiên Chúa không thế lực. Chính vì thế, quyền uy của Đấng Phục Sinh chẳng có gì giống với những quyền lực ở trần gian. Quyền lực của Tình Yêu không làm Thiên Chúa trở thành Thiên Chúa các đạo binh nhưng trở thành Thiên Chúa không khí giới.

 

 

CHÚA NHẬT LỄ LÁ
TƯỞNG NIỆM CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA

Mt 27,11-54
ÔNG NÀY LÀ CON THIÊN CHÚA

Suy niệm (Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ)

Tuần Thánh giúp ta tưởng niệm cuộc Thương Khó của Chúa.

Thế giới hôm nay cũng như hôm qua

vẫn sống trong cuộc thương khó của chính mình.

Thế giới thời nào cũng bị tan nát bởi các cuộc chiến.

Càng văn minh thì vũ khí hủy diệt càng khốc liệt.

Nhân loại vẫn phải đối diện với nghèo đói, dịch bệnh, thiên tai,

với những đổ vỡ nội tâm hay trong gia đình, không sao hàn gắn.

Con người tự hào với trí tuệ nhân tạo, với bao phát minh,

nhưng lại bất an với hậu quả tồi tệ do sản phẩm của mình.

Thế giới hôm nay cũng đầy những nạn nhân của bất công.

Nước mắt loài người như dòng sông không bao giờ cạn.

 

Con Thiên Chúa đi vào thế giới này cách đây hai mươi thế kỷ.

Ngài đón lấy toàn bộ thế giới đau thương đó,

và chia sẻ trọn vẹn những giới hạn của phận người.

Ngài đã bị kết án tử trên thập giá, dù Ngài vô tội.                                                                                                                                                                                                                           

Cần chiêm ngắm Đức Giêsu bị treo giữa trời và đất.

Tay chân Ngài bị đóng đinh, máu chảy ra từ những vết thương,

Trận roi đòn làm rách da thịt khiến Ngài kiệt sức.

Khuôn mặt của Ngài vẫn còn nguyên những vết khạc nhổ.

Ngài bị khạc nhổ ở nhà thượng tế Caipha và ở dinh Philatô.

Ngài luôn phải nghe những lời tố cáo của các nhà lãnh đạo.

Nhưng Ngài vẫn chẳng đáp lại một lời (Mt 26,63; 27,12-24).

Như con chiên trước lò sát, Ngài hiền lành đón nhận mọi sự.

 

Đức Giêsu trên thập giá là Đức Giêsu bị cám dỗ.

Cám dỗ này tương tự như cám dỗ trong hoang địa.

“Nếu ông là Con Thiên Chúa thì hãy xuống khỏi thập giá đi.

Chỉ cần xuống là chúng ta tin liền” (Mt 27,42).

Đức Giêsu đã không xuống, và không xin Cha đưa xuống.

Ngài biết rõ Cha muốn Ngài ở đây, chịu cơn thử thách này.

Ngài biết Cha muốn Ngài uống chén đắng,

nên Ngài đã để cho mình bị bắt mà không kháng cự.

Cha sẽ giải thoát Ngài theo cách và vào lúc Cha muốn.

Đức Giêsu là Con, ở lại trên thập giá, tùy Cha định liệu.

 

Đức Giêsu trên thập giá là Đức Giêsu giang tay.

Và đây là hai bàn tay trắng.

Ngài không mang theo điều gì khi về với Cha, trừ tình yêu.

Ngài chấp nhận mất tất cả: mạng sống, danh dự, môn đệ…

Giuđa đã phản bội, Phêrô đã chối, môn đệ khác đã bỏ chạy.

Ngài nặng tội hơn Barabba, bị đóng đinh giữa hai tên cướp.

Cả đến y phục Ngài mặc cũng đã bị tước đoạt.

Bây giờ cái chết đang từ từ nuốt chửng Ngài.

Hơi thở của Ngài trở nên khó khăn và ngắt quãng.

Nhưng điều kinh khủng hơn cả mà giờ đây Ngài bị mất,

đó là niềm an ủi đỡ nâng mà Ngài vẫn có từ Cha.

“Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con,

tại sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46).

Vào lúc Ngài cần Cha hơn cả thì Ngài lại thấy như bị bỏ rơi,

Nhưng Đức Giêsu vẫn gọi Cha, và trò chuyện với Cha.

Ngài cảm thấy Cha để mình bơ vơ,

nhưng chưa bao giờ mối dây của Ngài với Cha bị cắt đứt.

 

Đức Giêsu đã trút hơi thở cuối cùng như mọi người.

Trước khi chết Ngài đã lớn tiếng gọi tên Thiên Chúa.

Ngài ra đi một mình như nhiều người trong chúng ta.

Cái chết của Ngài không có vẻ nhẹ nhàng êm ả,

nhưng là cái chết của một chiến binh đã thắng trận.

Ngài đúng là một người công chính (Mt 27,19),

đúng là Con Thiên Chúa như lời viên sĩ quan (Mt 27,54).

 

Tuần Thánh mời ta đồng cảm với cuộc Thương Khó

chẳng những của Chúa Giêsu, mà của cả nhân loại.

Chúng ta không chỉ đau nỗi đau của Chúa,

mà còn đau nỗi đau của anh chị em ở quanh mình.

Chúng ta chịu trách nhiệm về cái chết của Chúa

và cái chết vô lý của biết bao người mỗi ngày.

Tuần Thánh mời chúng ta làm ông Ky-rê-nê

vác giùm ai đó thánh giá nặng quá sức họ.

Tuần Thánh mời ta bắt chước các phụ nữ vùng Galilê

đi với và ở với một tử tội bị đóng đinh đang hấp hối.

Cuộc Thương Khó Chúa không kết thúc bằng nấm mồ.

Chúng ta không thất vọng khi thế giới còn nhiều bóng tối,

vì tin cuộc thương khó của thế giới sẽ kết bằng Phục sinh.

 

 CẦU NGUYỆN

 

Lạy Chúa,

Con người hôm nay chênh vênh giữa trời cao và vực thẳm,

Chúa đã cho chúng con tự do để chọn

giữa thiện và ác,

giữa đồng cảm và vô cảm,

giữa chân lý và dối trá.

giữa tha thứ và hận thù,

giữa hiệp nhất và chia rẽ.

 

Chúa đã được giương cao khỏi mặt đất,

Và Chúa hứa sẽ kéo mọi người lên.

Vậy mà chúng con hôm nay vẫn còn chênh vênh!

Cuộc đời này có bao điều hút chúng con xuống,

Khiến chúng con cứ bị giằng co nghiêng ngả.

 

Xin giúp chúng con buông bỏ những đam mê trần tục,      

Để dám chọn điều Chúa đã chọn trên Thánh Giá:

chọn khó nghèo, nhục nhã, chọn tự hạ, khổ đau.

Nhờ sức mạnh cứu độ của Thánh Giá Chúa,

Xin đưa chúng con ra khỏi thế đứng chênh vênh

Để trọn vẹn thuộc về Chúa.

 

(Sr. Augusta)

Tin Giáo Xứ

Tin Gp. Bùi Chu

Tin Giáo hội Việt Nam

Tin Giáo hội Hoàn Vũ