Chúa nhật 18 Thường niên năm A (Mt 14,13-21)

“Mọi người đều ăn no”.

BÀI ĐỌC I: Is 55, 1-3

“Hãy đến mua lúa mà ăn”.

Trích sách Tiên tri Isaia.

Đây Chúa phán: “Hỡi tất cả những ai khát nước, hãy đến uống nước; hỡi kẻ không tiền bạc, hãy đến mua lúa mà ăn; hãy đến mà mua rượu và sữa, không cần trả tiền, không cần đổi chác gì. Tại sao các ngươi không dùng tiền mà mua bánh, sao không dùng tiền lương mà mua đồ nuôi thân? Vậy hãy lắng tai nghe, hãy đến ăn đồ bổ, và các ngươi sẽ được thưởng thức món ăn mỹ vị. Hãy lắng tai và đến cùng Ta, hãy nghe, thì các ngươi sẽ được sống; Ta sẽ ký kết với các ngươi một giao ước vĩnh cửu, đó là những hồng ân đã hứa cho Đavít”.

Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 144, 8-9. 15-16. 17-18

Đáp: Lạy Chúa, Chúa mở rộng bàn tay ra, và thi ân cho chúng con được no nê (x. c. 16).

Xướng:

1) Chúa nhân ái và từ bi, chậm bất bình và giàu ân sủng. Chúa hảo tâm với hết mọi loài, và từ bi với mọi công cuộc của Chúa. – Đáp.

2) Muôn loài để mắt cậy trông vào Chúa, và Ngài ban lương thực cho chúng đúng theo giờ. Chúa mở rộng bàn tay ra, và thi ân cho mọi sinh vật được no nê. – Đáp.

3) Chúa công minh trong mọi đường lối, và thánh thiện trong việc Chúa làm. Chúa gần gũi kẻ kêu cầu Ngài, mọi kẻ kêu cầu Ngài cách thành tâm. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: Rm 8, 35. 37-39

“Không một tạo vật nào có thể tách biệt chúng ta khỏi lòng yêu mến của Thiên Chúa trong Đức Kitô, Chúa chúng ta”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, ai sẽ tách biệt chúng ta ra khỏi lòng yêu mến của Đức Kitô được? Hay là gian truân, buồn sầu, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, bắt bớ, gươm giáo sao?

Nhưng chúng ta vượt thắng được trong tất cả những sự ấy, vì Đấng đã yêu thương chúng ta. Tôi chắc chắn rằng dù sự chết hay sự sống, dù thiên thần hay các bậc quyền quý, tài sức, dù những sự hiện tại hay tương lai, hoặc sức mạnh, dù cao hay sâu, dù tạo vật nào khác, cũng không có thể tách biệt chúng ta ra khỏi lòng yêu mến của Thiên Chúa, trong Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

Đó là lời Chúa.

Tin mừng: Mt 14:13-21

13 Khi ấy Chúa Giêsu nghe tin Gioan Tẩy Giả đã chết, thì Người rời bỏ nơi đó, xuống thuyền đi đến nơi hoang địa vắng vẻ. Dân chúng nghe biết, thì từ các thành phố đi bộ theo Người. 14 Ra khỏi thuyền, Người thấy dân chúng đông đảo, thì thương xót họ, và chữa những người bệnh tật trong họ.

15 Chiều tới, các môn đệ đến gần thưa Người rằng: “Đây là nơi hoang địa, mà giờ đã chiều rồi, xin Thầy giải tán dân chúng, để họ vào các làng mạc mà mua thức ăn”. 16 Nhưng Chúa Giêsu nói với các ông rằng: “Họ chẳng cần phải đi, các con hãy cho họ ăn”. 17 Các ông thưa lại rằng: “Ở đây chúng con chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá”. 18 Người bảo các ông rằng: “Hãy đem lại cho Thầy”.

19 Khi Người đã truyền cho dân chúng ngồi trên cỏ, Người cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ, các ông này phân phát cho dân chúng. 20 Mọi người đều ăn no. Và người ta thu lượm được mười hai thúng đầy những miếng bánh vụn. 21 Số người ăn là năm ngàn người đàn ông, không kể đàn bà và con trẻ.


Bài giảng của linh mục Ignatio Hồ Văn Xuân

 

Giáo lý cho bài giảng Chúa nhật 18 Thường niên năm A

WHĐ (29/7/2026) – Để hỗ trợ các nhà giảng thuyết thuận tiện hơn trong việc thêm giáo lý vào bài giảng, Ban Biên tập xin được trích dẫn những điểm giáo lý phù hợp với các bài đọc Kinh thánh của lễ Chúa nhật 18 Thường niên năm A theo hướng dẫn của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích.

Số 2828-2837: Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày

Số 1335: Phép lạ hóa bánh ra nhiều là hình ảnh tiên báo về Bí tích Thánh Thể

Số 1391-1401: Hiệu quả của việc rước lễ

Bài Ðọc I: Is 55, 1-3

Bài Ðọc II: Rm 8, 35. 37-39

Phúc Âm: Mt 14, 13-21

 Số 2828-2837: Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày

2828. “Xin Cha cho chúng con”: đẹp thay lòng tin tưởng của con cái trông chờ Cha ban cho mọi sự: “Ngài cho mặt trời của Ngài mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5,45), Ngài cho tất cả mọi sinh vật “đến bữa cho ăn” (Tv 104,27). Chúa Giêsu dạy chúng ta lời cầu xin này: đây là lời tôn vinh Cha chúng ta, bởi vì lời cầu xin này nhận biết Cha là Đấng quá tốt lành, vượt xa mọi lòng tốt.

2829. “Xin Cha cho chúng con” cũng là lời cầu xin trong tinh thần Giao Ước: chúng ta thuộc về Ngài và Ngài thuộc về chúng ta, lo cho chúng ta. Nhưng từ “chúng con” nhận biết Ngài là Cha của mọi người nên chúng ta cầu xin Cha cho mọi người, trong tình liên đới với các nhu cầu và đau khổ của họ.

2830. “Lương thực”: Chúa Cha, Đấng ban sự sống cho chúng ta, không lẽ lại không ban những gì cần thiết cho sự sống, tất cả những điều thiện hảo “thích hợp”, vật chất cũng như tinh thần. Trong Bài giảng trên núi, Chúa Giêsu nhấn mạnh đến lòng tín thác con thảo, cùng cộng tác với sự quan phòng của Cha chúng ta[1]. Ngài không muốn chúng ta làm biếng[2], nhưng muốn giải phóng chúng ta khỏi mọi lo âu và bận tâm. Đó là sự phó thác hiếu thảo của con cái Thiên Chúa:

“Đối với những ai tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài, Ngài hứa ban cho họ mọi điều khác. Bởi vì mọi sự đều thuộc về Thiên Chúa, nên ai có Thiên Chúa thì sẽ không thiếu thốn sự gì, nếu họ không thiếu vắng Thiên Chúa”[3].

2831. Nhưng sự tồn tại của những người đang đói cơm bánh cho thấy một chiều sâu khác của lời cầu xin này. Thảm kịch đói khát trên thế giới mời gọi các Kitô hữu đang cầu nguyện trong chân lý, phải có trách nhiệm hữu hiệu đối với các anh em, trong cách hành động cá nhân của họ cũng như trong sự liên đới của họ với gia đình nhân loại. Lời cầu xin này trong kinh Lạy Cha không được tách biệt với các dụ ngôn Anh Lazarô nghèo khó[4] và Cuộc Phán Xét Chung[5].

2832. Như men trong bột, sự mới mẻ của Nước Chúa phải làm “dậy men” trái đất bằng Thần Khí của Đức Kitô[6]. Điều này phải được tỏ hiện bằng việc thiết lập công bằng trong các tương quan cá nhân và xã hội, kinh tế và quốc tế, mà đừng bao giờ quên rằng không thể có cơ cấu xã hội công bằng nếu không có những con người muốn sống công bằng.

2833. Đối tượng cầu xin là lương thực của “chúng con”: “một” điều cho “tất cả”. Tinh thần khó nghèo theo các mối phúc là nhân đức chia sẻ: nó thúc đẩy thông chia và phân phát những của cải vật chất cũng như tinh thần, không vì cưỡng bách nhưng do tình yêu, ngõ hầu sự dư thừa của người này bù đắp sự túng thiếu của những người khác[7].

2834. “Cầu nguyện và làm việc”[8]. “Anh em hãy cầu nguyện như thể tất cả tuỳ thuộc vào Thiên Chúa, và hãy làm việc như thể tất cả tuỳ thuộc vào anh em”[9]. Cả khi chúng ta đã hoàn tất công việc của mình, lương thực vẫn là một hồng ân của Cha chúng ta; đẹp thay việc cầu xin Ngài và tạ ơn Ngài về lương thực đó. Đó là ý nghĩa của kinh chúc lành bữa ăn trong gia đình Kitô giáo.

2835. Lời cầu xin này và trách nhiệm kèm theo, cũng có giá trị đối với một nạn đói khác khiến cho con người phải diệt vong: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4,4)[10], nghĩa là nhờ Lời và Thần Khí của Thiên Chúa. Các Kitô hữu phải vận dụng mọi nỗ lực của mình để “những người nghèo khó được loan báo Tin Mừng”. Trên trái đất còn những người đói khát, “không phải đói bánh ăn, cũng không phải khát nước uống, mà là đói khát được nghe Lời Chúa” (Am 8,11). Vì thế, ý nghĩa đặc thù Kitô giáo của lời cầu xin thứ tư này liên quan đến Bánh trường sinh: đó là Lời Chúa được đón nhận trong đức tin, là Mình Thánh Chúa Kitô được lãnh nhận trong bí tích Thánh Thể[11].

2836. “Hôm nay” cũng là kiểu nói biểu lộ sự phó thác. Chúa dạy chúng ta điều này[12]; chứ chúng ta không thể sáng chế ra. Đặc biệt khi nói đến Lời Chúa và Mình Thánh của Con Ngài, từ “hôm nay” không chỉ nói đến hiện tại của thời gian chóng qua, mà còn là ngày “Hôm nay” của Thiên Chúa:

“Nếu mỗi ngày bạn lãnh nhận lương thực, thì mỗi ngày đều là ngày hôm nay cho bạn. Nếu Đức Kitô hôm nay là của bạn, thì mỗi ngày Người sống lại cho bạn. Làm sao lại như thế được? ‘Con là con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra con’ (Tv 2,7). Vì vậy, Ngày Hôm Nay là khi Đức Kitô sống lại”[13].

2837. “Hằng ngày”. Tân Ước không sử dụng từ “hằng ngày” (épiousios) ở chỗ nào khác. Theo nghĩa thời gian, từ này là sự lặp lại từ “hôm nay” theo kiểu sư phạm[14], để dạy chúng ta phó thác cách triệt để. Theo nghĩa phẩm chất, từ này có nghĩa là điều cần thiết cho sự sống và, hiểu rộng hơn, mọi điều thiện hảo đủ để tồn tại[15]. Theo nghĩa văn tự (épi-ousios: “super-substantiale”, vượt trên điều cốt thiết), từ này trực tiếp nói đến Bánh trường sinh, là Mình Thánh Chúa Kitô, “phương dược trường sinh”[16], mà nếu không có lương thực này, chúng ta sẽ không có sự sống nơi mình[17]. Sau cùng, kết hợp với điều đã nói trên, ý nghĩa thiên quốc là rõ ràng: “ngày” là ngày của Chúa, ngày của Bàn tiệc Nước Trời, mà bí tích Thánh Thể là một sự tham dự trước, như nếm trước Nước Trời đang đến. Chính vì vậy, phụng vụ Thánh Thể phải được cử hành “hằng ngày”.

“Vậy Thánh Thể là lương thực hằng ngày của chúng ta…. Đặc tính của lương thực thần thiêng này là sự hợp nhất, để một khi được kết hợp trong Mình Thánh Người, trở nên các chi thể của Người, chúng ta trở thành điều chúng ta lãnh nhận…. Và lương thực hằng ngày là khi anh em nghe các bài đọc mỗi ngày ở nhà thờ; lương thực hằng ngày là khi anh em nghe và hát các thánh thi. Bởi vì những điều đó là cần thiết cho cuộc lữ hành của chúng ta”[18].

“Cha trên trời thúc dục chúng ta là, với tư cách là con cái bởi trời, chúng ta hãy cầu xin Bánh bởi trời[19]. Đức Kitô ‘chính Người là tấm bánh được gieo trồng trong lòng Đức Trinh Nữ, dậy men trong xác phàm, làm thành bánh trong cuộc khổ nạn, nấu nương trong lò huyệt mộ, lưu giữ trong các nhà thờ, được dâng lên trên các bàn thờ, hằng ngày cung cấp lương thực bởi trời cho các tín hữu’”[20].

 

Số 1335: Phép lạ hóa bánh ra nhiều là hình ảnh tiên báo về Bí tích Thánh Thể

1335. Các phép lạ hóa bánh ra nhiều, khi Chúa dâng lời chúc tụng, bẻ bánh ra và trao cho các môn đệ Người để nuôi dưỡng đám đông, là hình ảnh tiên báo sự vô cùng phong phú của tấm bánh duy nhất là Thánh Thể của Người[21]. Dấu chỉ nước hoá thành rượu ở Cana[22] đã loan báo Giờ vinh quang của Chúa Giêsu. Dấu chỉ này biểu lộ sự hoàn tất của bữa tiệc cưới trong Nước của Chúa Cha, nơi các tín hữu uống rượu mới[23] đã trở thành Máu Đức Kitô.

 

Số 1391-1401: Hiệu quả của việc rước lễ

1391. Việc rước lễ làm tăng trưởng sự hiệp thông của chúng ta với Đức Kitô. Lãnh nhận bí tích Thánh Thể khi rước lễ mang lại hiệu quả chính yếu là kết hợp thân mật với Đức Kitô Giêsu. Thật vậy, Chúa nói: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6,56). Sự sống trong Đức Kitô có nền tảng nơi bàn tiệc Thánh Thể: “Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy” (Ga 6,57).

“Trong các ngày lễ của Chúa, khi lãnh nhận Mình của Chúa Con, các tín hữu công bố cho nhau Tin Mừng: bảo chứng của sự sống đã được trao ban, cũng như xưa kia Thiên thần báo cho bà Maria Mađalêna: ‘Đức Kitô đã phục sinh!’ Giờ đây cũng vậy, sự sống và sự phục sinh cũng được trao ban cho ai lãnh nhận Đức Kitô”[24].

1392. Những gì lương thực vật chất mang lại cho sự sống thể xác, thì việc rước lễ thực hiện điều này cách kỳ diệu cho đời sống thiêng liêng của chúng ta. Việc hiệp thông với thân mình Đức Kitô phục sinh, một thân mình “nhờ Chúa Thánh Thần, đã được sống và có sức ban sự sống”[25], bảo toàn, phát triển và canh tân đời sống ân sủng đã nhận được trong bí tích Rửa Tội. Sự tăng trưởng như vậy của đời sống Kitô hữu cần được nuôi dưỡng bằng việc rước Thánh Thể, là Bánh cho cuộc lữ hành của chúng ta, mãi cho đến giờ chết; lúc đó Bánh sẽ được ban cho chúng ta như Của ăn đàng.

1393. Việc rước lễ ngăn cách chúng ta khỏi tội lỗi. Mình Đức Kitô chúng ta lãnh nhận khi rước lễ, là thân mình “bị nộp vì chúng ta” và Máu chúng ta uống, là máu “đổ ra cho nhiều người được tha tội.” Vì vậy, bí tích Thánh Thể không thể kết hợp chúng ta với Đức Kitô, nếu đồng thời không thanh tẩy chúng ta khỏi các tội đã phạm và gìn giữ chúng ta khỏi các tội trong tương lai:

“Mỗi lần chúng ta rước lễ, chúng ta loan truyền Chúa đã chịu chết[26]. Nếu chúng ta loan truyền cái chết của Chúa, thì cũng loan truyền ơn tha tội. Nếu mỗi lần Máu Người đổ ra, là đổ ra để tha tội, thì tôi phải luôn lãnh nhận Máu Người, để Người luôn tha tội cho tôi. Tôi là kẻ luôn phạm tội, nên tôi luôn phải có một phương dược”[27].

1394. Như lương thực vật chất dùng để phục hồi sức lực bị tiêu hao, thì bí tích Thánh Thể cũng tăng sức mạnh cho đức mến của chúng ta, vốn có xu hướng bị suy yếu trong đời sống hằng ngày; và đức mến sống động này xóa bỏ các tội nhẹ[28]. Khi tự hiến cho chúng ta, Đức Kitô một lần nữa ban sự sống cho tình yêu của chúng ta và ban cho chúng ta khả năng phá huỷ những đam mê vô trật tự của chúng ta đối với các thụ tạo và khả năng gắn bó với Người:

“Vì yêu thương, Đức Kitô đã chết cho chúng ta, nên mỗi khi tưởng niệm cuộc tử nạn của Người trong Thánh lễ, chúng ta xin Người ban tình yêu cho chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần ngự đến; chúng ta khiêm tốn khẩn nguyện rằng, nhờ tình yêu mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, và nhờ ân sủng Chúa Thánh Thần mà chúng ta đã lãnh nhận, chúng ta có thể coi thế gian như đã bị đóng đinh, và chúng ta bị đóng đinh cho thế gian; … khi đã lãnh nhận hồng ân tình yêu, chúng ta hãy chết cho tội lỗi và sống cho Thiên Chúa”[29].

1395. Nhờ tình yêu mà bí tích Thánh Thể đã đốt lên trong chúng ta, bí tích này gìn giữ chúng ta khỏi các tội trọng trong tương lai. Chúng ta càng tham dự vào sự sống của Đức Kitô, và càng tiến thêm trong tình bằng hữu với Người, thì càng khó phạm tội trọng mà cắt đứt sự liên kết với Người. Bí tích Thánh Thể không được thiết lập để tha các tội trọng. Đó là chức năng riêng của bí tích Hòa Giải. Bí tích Thánh Thể có chức năng riêng, là bí tích của những người đang sống trong sự hiệp thông đầy đủ với Hội Thánh.

1396. Sự hợp nhất của Nhiệm Thể: Bí tích Thánh Thể làm nên Hội Thánh. Những ai đã lãnh nhận Thánh Thể, đều được kết hợp cách chặt chẽ hơn với Đức Kitô. Nhờ đó, Đức Kitô kết hợp mọi tín hữu thành một thân thể duy nhất là Hội Thánh. Việc tháp nhập vào Hội Thánh như vậy, vốn đã được bí tích Rửa Tội thực hiện, nay được việc rước lễ canh tân, củng cố và làm cho thâm sâu hơn. Trong bí tích Rửa Tội, chúng ta đã được kêu gọi để làm thành một thân thể duy nhất[30]. Bí tích Thánh Thể thực hiện lời kêu gọi này: “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Kitô ư ? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1 Cr 10,16-17):

“Nếu anh em là Thân Thể và là các chi thể của Đức Kitô, thì mầu nhiệm của anh em đang được đặt trên Bàn của Chúa: anh em lãnh nhận mầu nhiệm của anh em. Anh em đáp Amen (Vâng, đúng như thế) đối với điều anh em là, và anh em xác nhận bằng câu đáp đó. Anh em nghe: ‘Mình Thánh Chúa Kitô’ và anh em đáp: ‘Amen’. Vậy hãy là chi thể của Thân Thể Đức Kitô, để lời đáp Amen của anh em là chân thật”[31].

1397. Bí tích Thánh Thể đòi buộc dấn thân cho người nghèo: Để lãnh nhận trong sự thật Mình và Máu Đức Kitô bị nộp vì chúng ta, chúng ta phải nhận ra Đức Kitô trong những kẻ nghèo nhất, là các anh em của Người.[32]

“Bạn nếm Máu Thánh Chúa, vậy mà bạn lại không nhận ra người anh em; … Bạn làm hổ thẹn Bàn tiệc này, khi người được coi là xứng đáng tham dự Ban tiệc này, lại bị bạn coi là không xứng đáng được chia phần ăn của bạn. Thiên Chúa đã giải thoát bạn khỏi mọi tội lỗi và cho bạn vào bàn tiệc, vậy mà quả thật bạn đã chẳng nhân hậu hơn chút nào”[33].

1398. Bí tích Thánh Thể và sự hợp nhất các Kitô hữu. Trước sự cao cả của mầu nhiệm này, thánh Augustinô đã thốt lên: “Ôi bí tích tình yêu! Ôi dấu chỉ hợp nhất! Ôi mối dây bác ái![34] Người ta càng đau lòng vì sự chia rẽ trong Hội Thánh vốn làm cho các Kitô hữu không thể tham dự chung với nhau bàn tiệc của Chúa, thì những lời nguyện dâng lên Chúa càng khẩn thiết hơn, để những ngày hợp nhất trọn vẹn, của mọi kẻ tin vào Người, được trở lại.

1399. Các Giáo Hội Đông phương, dù không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công giáo, vẫn cử hành bí tích Thánh Thể với một tình yêu cao cả. “Các Giáo Hội ấy, mặc dù ly khai, vẫn có các bí tích đích thực, chủ yếu là chức tư tế và bí tích Thánh Thể, nhờ sự kế nhiệm các Tông Đồ, nên vẫn liên kết rất chặt chẽ với chúng ta”[35]. Vì vậy, “một hiệp thông nào đó trong các sự thánh, trong những trường hợp thuận lợi và với sự chấp thuận của giáo quyền, không những là có thể, mà còn được khuyến khích”[36].

1400. Các Cộng đoàn Giáo hội phát sinh từ cuộc Cải Cách, đã ly khai khỏi Hội Thánh Công Giáo, “đặc biệt là vì thiếu bí tích Truyền Chức Thánh, nên không còn giữ được bản chất đích thực và nguyên vẹn của mầu nhiệm Thánh Thể”[37]. Vì vậy, đối với Hội Thánh Công Giáo, việc rước lễ chung với những Cộng đoàn này là không thể được. Nhưng khi các cộng đoàn này “tưởng niệm sự chết và sự sống lại của Chúa trong Tiệc Thánh, họ tuyên xưng rằng sự sống chỉ có nghĩa trong sự hiệp thông với Đức Kitô và họ mong đợi ngày trở lại vinh quang của Người”[38].

1401. Khi có nhu cầu khẩn cấp, theo phán đoán của Đấng Bản Quyền địa phương, các thừa tác viên Công giáo được phép ban các bí tích (Thánh Thể, Hòa Giải, Xức Dầu bệnh nhân) cho các Kitô hữu không hiệp thông trọn vẹn với Hội Thánh Công Giáo, nhưng họ phải tự ý xin lãnh nhận các bí tích đó: lúc đó, họ phải tuyên xưng đức tin công giáo về các bí tích này và có sự chuẩn bị đầy đủ[39].

Bài giảng Đức Thánh Cha – Chúa nhật 18 Thường niên năm A

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 18 Thường niên năm A (02/8/2020) – Luận lý của Thiên Chúa là chăm sóc cho tha nhân chứ không quay mặt đi

Anh chị em thân mến,

Đoạn Tin mừng Chúa nhật XVIII Thường niên hôm nay thuật lại phép lạ hóa bánh ra nhiều (Mt 14,13-21). Sự kiện diễn ra trong một nơi hoang vắng, nơi Chúa Giêsu và các môn đệ rút lui khỏi đám đông. Nhưng dân chúng đến với Chúa để lắng nghe Chúa và được chữa lành: thật sự là lời nói và việc làm của Chúa chữa lành và ban niềm hy vọng.

Dưới sức nóng của mặt trời, đám đông vẫn ở đó, và các môn đệ, những người thực tế, yêu cầu Chúa Giêsu giải tán đám đông để họ đi kiếm thức ăn. Nhưng Chúa trả lời: “Chính anh em hãy cho họ ăn” (c.16). Chúng ta hãy tưởng tượng nét mặt của các môn đệ! Chúa Giêsu biết điều Chúa sắp làm, nhưng Chúa muốn thay đổi thái độ của họ: Chúa không nói “hãy giải tán họ”, “để họ tự lo đi”, “để họ tìm thức ăn cho họ”; nhưng Chúa nói “điều gì Chúa Quan Phòng ban cho chúng ta để chia sẻ?”.

Đây là hai thái độ tương phản. Và Chúa Giêsu muốn các môn đệ có thái độ thứ hai, bởi vì đề nghị thứ nhất là một đề nghị thực tiễn, nhưng không quảng đai: “hãy giải tán họ, để họ đi tìm thức ăn, để họ tự lo”. Và Chúa Giêsu nghĩ theo cách khác.

Qua tình huống này, Chúa Giêsu muốn dạy các người bạn ngày xưa cũng như ngày nay của Chúa lối lý luận của Thiên Chúa. Luận lý của Thiên Chúa chúng ta thấy ở đây là gì? Đó là lối lý luận chăm lo cho tha nhân; luận lý không rửa tay vô can, luận lý không ngoảnh mặt đi nơi khác. Đó là lối lý luận chăm lo cho người khác. Lối lý luận “để họ tự lo” không được có trong từ điển Kitô giáo.

Ngay lập tức, một người trong nhóm Mười Hai, với tính thực tế, liền nói: “Chúng con chỉ có năm cái bánh và hai con cá!”, Chúa Giêsu trả lời: “Đem lại đây cho Thầy” (cc. 17-18). Chúa cầm lấy thức ăn đó, ngước mắt lên trời, đọc lời chúc tụng và bắt đầu bẻ ra và trao các phần cho các môn đệ để phân phát cho dân. Và số bánh và cá đó không hết, chúng đủ cho hàng ngàn người và con thừa lại.

Bằng việc làm này Chúa Giêsu bày tỏ quyền năng của Chúa, tuy nhiên không phải một cách ngoạn mục, nhưng như một dấu chỉ của đức ái, của lòng quảng đại của Thiên Chúa Cha đối với những đứa con mệt mỏi và thiếu thốn của Người. Chúa đi sâu vào trong cuộc sống của dân Chúa, Chúa hiểu được sự mệt mỏi và giới hạn của họ, nhưng không để ai bị hư mất hoặc thiếu thốn: Chúa bồi bổ họ bằng Lời Chúa và ban lương thực dư tràn để dưỡng nuôi họ.

Trong trình thuật Tin mừng chúng ta thấy có đề cập đến Bí tích Thánh Thể, đặc biệt là ở đó miêu tả việc chúc tụng, bẻ bánh, trao cho các môn đệ, phân phát cho dân chúng (c.19). Cần lưu ý mức độ liên kết chặt chẽ giữa bánh Thánh Thể, lương thực cho sự sống đời đời, và lương thực hằng ngày, cần thiết cho cuộc sống trần thế. Trước khi tự dâng hiến chính mình cho Chúa Cha như Lương thực cứu độ, Chúa Giêsu lo liệu lương thực cho những người theo Chúa và những người để được ở với Chúa, họ đã quên chuẩn bị những điều cần thiết. Đôi khi, tinh thần và vật chất đối nghịch nhau, nhưng trong thực tế, cả hai thái độ duy tâm cũng như duy vật đều là điều xa lạ với Kinh thánh. Nó không phải là ngôn ngữ của Kinh thánh.

Cảm thương, sự dịu dàng của Chúa Giêsu đối với đám đông không phải là chủ nghĩa duy cảm tính, nhưng là biểu hiện cụ thể của tình yêu thương, chăm sóc những nhu cầu của mọi người. Và chúng ta được mời gọi đến với bàn tiệc Thánh Thể với cùng thái độ của Chúa Giêsu: cảm thương với nhu cầu của người khác. Từ này lập lại trong Tin mừng khi Chúa Giêsu nhìn thấy một vấn đề, một căn bệnh hay đám đông không có thức ăn… “Người chạnh lòng thương xót”.

Cảm thương không phải là một tình cảm thuần vật chất; lòng cảm thương thật sự là đau khổ với, mang lấy trên mình nỗi đau của người khác. Có lẽ sẽ tốt cho chúng ta hôm nay khi chúng ta tự hỏi: tôi có động lòng trắc ẩn khi đọc tin tức về chiến tranh, đói khát, đại dịch không? Rất nhiều điều … Tôi có cảm thương với những người đó không? Tôi có cảm thương với những người gần gũi với tôi không? Tôi có thể chịu đau khổ với họ hay tôi nhìn đi nơi khác hoặc “để họ tự lo?” Đừng quên từ “cảm thương” này, đó là niềm tin vào tình yêu quan phòng của Chúa Cha và có nghĩa là sự chia sẻ can đảm.

Xin Đức Maria giúp chúng ta đi theo con đường mà Chúa chỉ cho chúng ta trong Tin mừng hôm nay. Đó là con đường của tình huynh đệ, cần thiết để đối mặt với sự nghèo đói và đau khổ của thế giới này, đặc biệt là trong thời khắc nghiêm trọng, và thúc đẩy chúng ta đi ra khỏi thế giới của chính mình, bởi vì đó là một hành trình bắt đầu từ Thiên Chúa và trở về với Thiên Chúa.

Nguồn: vaticannews.va/vi

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 18 Thường niên năm A (03/8/2014) – Xót thương, chia sẻ và Thánh Thể

Anh chị em thân mến,

Phúc âm Chúa nhật thường niên thứ 18 năm A kể lại biến cố Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi dân chúng (Mt 14:13-21). Chúa Giêsu làm phép lạ đó gần bờ hồ Galilê, trong một chỗ vắng vẻ, nơi ngài đã cùng các môn đệ rút lui vào đó sau khi nghe tin ông Gioan Tẩy Giả chết. Nhưng có biết bao người đã đi theo và tới với các ngài. Và khi trông thấy họ Chúa Giêsu cảm thương và chữa lành những người bệnh cho tới chiều. Khi đó các môn đệ lo lắng vì trời đã muộn, các ông gợi ý cho Chúa giải tán đám đông để họ có thể vào các làng mạc mua thức ăn. Nhưng Chúa Giêsu bình tĩnh trả lời: ”Chính các con hãy cho họ ăn đi” (Mt 14,16). Rồi sau khi 5 chiếc bánh và hai con cá được đem tới, Người chúc lành, bắt đầu bẻ ra, trao cho các môn đệ, và các ông phân phát cho dân chúng. Mọi người ăn no nê mà vẫn còn dư.

Trong biến cố này chúng ta có thể tiếp nhận ba sứ điệp. Thứ nhất là lòng cảm thương. Trước đám dông đuổi theo Người – và có thể nói rằng không để cho người yên – Chúa Giêsu không phản ứng với sự cáu giận, Người không nói: “Dân này làm phiền tôi”. Không. Không. Nhưng Người phản ứng với tâm tình cảm thương, bởi vì Người biết rằng họ tìm Người không phải vì tò mò, nhưng vì cần Người. Chúng ta hãy chú ý: cảm thương, đó là điều Chúa Giêsu cảm thấy. Nó không chỉ đơn sơ là thương hại, mà còn hơn nữa! Nó có nghĩa là đau khổ với, đồng hóa mình trong nỗi khổ đau của người khác, tới độ nhận lấy nó trên chính mình. Chúa Giêsu là như thế: Ngài cùng đau khổ với chúng ta. Ngài đau khổ với chúng và cho chúng ta. Và dấu chỉ của lòng cảm thương đó là Ngài đã chữa lành nhiều người bệnh. Chúa Giêsu dậy chúng ta đặt các nhu cầu của người nghèo trước các nhu cầu của chúng ta. Các nhu cầu của chúng ta, cho dù hợp pháp, cũng sẽ không bao giờ cấp thiết như các nhu cầu của người nghèo, là những người không có cái tối thiểu để sống. Chúng ta thường nói về người nghèo, nhưng khi nói về người nghèo, chúng ta có cảm thấy rằng người đàn ông này, người đàn bà nọ, các trẻ em ấy không có điều cần thiết để sống không? Rằng họ không có ăn, không có mặc, không thể có thuốc men. Cả các trẻ em nữa không thể đến trường… Và vì thế các nhu cầu của chúng ta, dù hợp pháp, sẽ không bao giờ cấp thiết bằng các nhu cầu của người nghèo không có điều tối thiểu để sống.

Sứ điệp thứ hai là sự chia sẻ. Thứ nhất là sự cảm thương, điều mà Chúa Giêsu cảm thấy với sự chia sẻ. Thật ích lợi đối chiếu phản ứng của các môn đệ trước người dân mệt mỏi và đói khát với phản ứng của Chúa Giêsu. Các môn đệ nghĩ rằng tốt hơn là giải tán dân chúng, để họ có thể đi mua thức ăn. Trái lại, Chúa Giêsu nói: các con hãy cho họ ăn đi. Hai phản ứng khác nhau, chúng phản ánh hai luận lý trái nghịch nhau: các môn đệ phản ứng theo thế gian, theo đó mỗi người nghĩ tới chính mình; họ đã phản ứng như thể nói rằng: “Anh chi em hãy tự lo liệu.” Chúa Giêsu lý luận theo cái luận lý của Thiên Chúa, là cái luận lý của sự chia sẻ. Biết bao nhiêu lần chúng ta đã quay mặt đi nơi khác để không trông thấy các người anh em cần giúp đỡ. Và cái nhìn đi chỗ khác này là một kiểu lịch sự để nói rằng, trong đôi găng tay trắng: “Hãy tư lo liệu lấy”. Điều này không phải là của Chúa Giêsu: đó là sự ích kỷ. Nếu Chúa Giêsu đã giải tán các đám đông, thì cũng sẽ còn có biết bao nhiêu người không có ăn. Trái lại, ít chiếc bánh và cá, được chia sẻ và được Thiên Chúa chúc phúc, đã đủ cho tất cả mọi người. Chúng ta hãy chú ý: đây không phải là một ma thuật, mà là một ”dấu chỉ”! Một dấu chỉ mời gọi có niềm tin nơi Thiên Chúa, là Cha quan phòng, là Đấng không để cho chúng ta thiếu “lương thực hằng ngày”, nếu chúng ta biết chia sẻ nó như anh chị em!

Sứ điệp thứ ba là phép lạ hóa bánh ra nhiều báo trước Bí tích Thánh Thể. Chúng ta thấy nó nơi cử chỉ của Chúa Giêsu “đọc lời chúc tụng” (c. 19) trước khi bẻ bánh và phân phát cho đám đông. Nó cũng là chính cử chỉ Người sẽ làm trong Bữa Tiệc Ly, khi Người thành lập việc tưởng niệm vĩnh cửu Hiến tế cứu độ của Người. Trong Bí tích Thánh Thể Chúa Giêsu không cho một chiếc bánh, nhưng cho bánh sự sống vĩnh cửu, trao ban chính Ngài, tận hiến chính mình cho Thiên Chúa Cha vì yêu thương chúng ta. Ai đến với Bí tích Thánh Thể mà không có lòng cảm thương các người túng thiếu và không chia sẻ, thì không hợp với Chúa Giêsu…

Cảm thương, chia sẻ và Thánh Thể. Đó là con đường mà Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta trong Tin mừng này. Một con đường dẫn đưa chúng ta tới chỗ đối chiếu với các nhu cầu của thế giới này với tình huynh đệ; nhưng nó dẫn đưa chúng ta vượt qua thế giới này, bởi vì nó khởi hành từ Thiên Chúa và trở lại với Người.

Xin Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ của sự Quan Phòng thiên linh, đồng hành với chúng ta trên con đường này.

Nguồn: archivioradiovaticana.va

Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 18 Thường niên năm A (31/7/2011) – Không được thờ ơ trước thảm cảnh của những người đói khát

Bài Tin mừng Chúa nhật này mô tả phép lạ hóa bánh mà Chúa Giêsu đã làm cho một đám đông lớn đi theo Ngài để nghe Ngài giảng và được chữa lành khỏi nhiều bệnh tật (xem Mt 14:14). Khi chiều tối buông xuống, các môn đệ đề nghị Chúa Giêsu cho đám đông giải tán để họ có thể dùng bữa. Nhưng Chúa có ý khác: “Các con hãy cho họ ăn” (Mt 14:16). Tuy nhiên, họ chỉ có “năm cái bánh… và hai con cá”. Hành động tiếp theo của Chúa Giêsu gợi nhớ đến bí tích Thánh Thể: “Người ngước mắt lên trời, đọc lời chúc tụng, bẻ bánh ra và trao cho các môn đệ, và các môn đệ phân phát cho dân chúng” (Mt 14,19).

Phép lạ hệ tại việc chia sẻ huynh đệ một ít bánh mà được tín thác cho quyền năng của Thiên Chúa, không những chúng đủ cho tất cả mọi người, mà còn dư thừa nữa, tới độ làm đầy mười hai giỏ. Chúa thúc giục các môn đệ để chính các vị phân phát bánh cho đám đông; trong cách thức đó Người dậy dỗ và chuẩn bị các vị cho sứ mệnh tông đồ tương lai: thật thế, các vị phải đem thực phẩm Lời sự sống và Bí tích đến cho tất cả mọi người.

Trong dấu chỉ lạ lùng ấy việc nhập thể của Thiên Chúa và công trình cứu độ giao thoa nhau. Thật vậy, Chúa Giêsu ”xuống” khỏi thuyền để gặp gỡ con người (x. Mt 14,14). Thánh Massimô Tuyên Tín khẳng định rằng Ngôi Lời Thiên Chúa “vì tình yêu đối với chúng ta, hạ mình hiện diện trong thịt xác, bắt nguồn từ chúng ta và phù hợp với chúng ta ngoại trừ tội lỗi, và để trình bầy với chúng ta giáo huấn với các lời nói và gương sống phù hợp với chúng ta” (Ambiguum 3: PG 91,1285 C).

Ở đây, Chúa cống hiến cho chúng ta một gương sáng hùng hồn về lòng thương xót đối với dân chúng. Chúng ta nghĩ tới biết bao nhiêu anh chị em trong những ngày này đang phải đau khổ vì các hậu quả của nạn đói kém trong vùng Sừng Phi châu; nó trở thành trầm trong hơn vì chiến tranh và vì thiếu các cơ cấu chắc chắn. Chúa Kitô chú ý tới nhu cầu vật chất, nhưng Ngài muốn cho nhiều hơn nữa, bởi vì con người luôn luôn ”đói khát một cái gì hơn nữa, nó cần một cái gì hơn nữa” (Gesù di Nazareth, Milano 2007,311). Trong bánh của Chúa Kitô tình yêu của Thiên Chúa hiện diện; trong cuộc gặp gỡ với Ngài ”chúng ta dưỡng nuôi mình bằng chính Thiên Chúa sống động, chúng ta thật sự ăn “bánh từ trời” (ibid).

Anh chị em thân mến, “trong Bí tích Thánh Thể Chúa Giêsu làm cho chúng ta trở thành các chứng nhân lòng thương xót của Thiên chúa đối với từng anh chị em một. Như thế nảy sinh chung quanh mầu nhiệm Thánh Thể việc phục vụ bác ái đối với tha nhân” (Esortazione ap. postsin. Sacramentum caritatis, 88). Thánh Ignazio, Đấng sáng lập dòng Tên mà Giáo hội kính nhớ hôm nay, làm chứng điều đó. Thật vậy, vì người đã chọn sống “bằng cách tìm kiếm Thiên Chúa trong tất cả mọi sự và yêu mến Người trong tất cả mọi thụ tạo” (x. Costituzioni della Compagnia di Gesù, III, 1,26).

Chúng ta hãy phó thác cho Đức Trinh Nữ Maria lời cầu nguyện của chúng ta, để Mẹ mở rộng con tin chúng ta cho lòng xót thương đối với tha nhân và cho việc chia sẻ huynh đệ.

Nguồn: archivioradiovaticana.va

Suy niệm (TGM Giuse Nguyễn Năng)

Suy niệm: Tìm hiểu Tin Mừng chúng ta thấy Ðức Giêsu có đủ mọi điểm đáng ca tụng: Khiêm nhượng, công bình, can đảm, tế nhị… Nhưng nổi bật nhất là lòng thương xót, Ðức Giêsu đến trần gian để thực hiện chương trình cứu rỗi. Tình thương được thể hiện bằng cách: Giảng dạy và cứu họ khỏi mọi bệnh hoạn tật nguyền, cùng ban bánh nuôi sống họ.

Còn chúng ta, đối với anh em chung quanh, ta có thái độ nào ? Yêu thương, giúp đỡ hay lãnh đạm dửng dưng ? Các đối xử của ta đối với tha nhân sẽ là bằng chứng nói lên chúng ta có phải là Kitô hữu đích thực hay chỉ là giả hiệu.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, Chúa luôn quan phòng yêu thương chúng con. Ngài chăm sóc phần hồn, nuôi dưỡng phần xác… Xin cho chúng con cảm nhận được tình yêu của Chúa, để chúng con an tâm vững bước trên đường đời. Xin cho chúng con cũng biết học nơi Chúa để sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ với những khổ đau nghèo khó của anh chị em chúng con trong tinh thần quảng đại, yêu thương. Amen.

Ghi nhớ: “Mọi người đều ăn no”.

 

Suy niệm (Lm. I-nha-xi-ô Hồ Văn Xuân)

CHIA SẺ LỜI CHÚA

* Tin Mừng Chúa nhật hôm nay kể lại phép lạ hoá bánh ra nhiều. Chúng ta ngưỡng mộ lòng quảng đại của Đức Giê-su luôn quan tâm cung cấp những gì cần thiết cho đám đông. Khi ấy, Đức Giê-su di chuyển trên một con thuyền đi đến một chỗ hoang vắng riêng biệt. Người cùng với các môn đệ muốn nghỉ ngơi một chút sau một ngày rao giảng mệt nhọc. “Nghe biết vậy, đông đảo dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người. Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương và chữa lành các bệnh nhân của họ.” Chạnh lòng thương là một trong những ưu phẩm của Thánh Tâm Đức Giê-su trong Tin Mừng. Người nghĩ ngay đến những nỗi bất hạnh của đám đông đang đứng trước mặt Người, những nhu cầu, những đau khổ và Người thương họ vô cùng. Trong Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, Đức Giê-su lấy lại hai lần lời ngôn sứ Hô-sê : “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế” (Mt 9,13 ; 12,7). Đức Giê-su biết rằng Cha trên trời giàu lòng thương xót và Người thông truyền lòng thương xót này qua con tim nhân loại của Người để phục vụ tất cả những ai đang cần đến Người. “Người chữa lành các bệnh nhân của họ.” Đức Giê-su đến trần gian để chữa lành và cho con người được niềm vui và bình an.

* Khi chiều đến, các môn đệ không hề chia sẻ lòng thương xót của Đức Giê-su nhưng lý luận theo kiểu nhân loại. Các ông thưa với Người : “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn.” Vấn đề các ông đặt ra là hợp lý, bởi vì đám người quá đông, các ông không thể cung cấp cho họ những gì họ cần, nên việc làm hợp lý nhất là giải tán họ để họ trở về các làng mạc mà mua thức ăn. Đức Giê-su không đồng ý với cách giải quyết này của các môn đệ, Người bảo : “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn.” Những lời này của Đức Giê-su đã gợi ý cho một số lớn các vị thánh trong Giáo Hội, trước những nhu cầu cấp thiết của những người đương thời, không ngồi đó mà than vãn nhưng đã mạnh dạn thành lập các Dòng tu Bác ái để giúp đỡ những người nghèo khổ, bất hạnh. “Chính anh em hãy cho họ ăn.” Một câu nói mà mỗi người chúng ta phải nghĩ là Chúa nói với mình. Khi chúng ta gặp những người nghèo khổ, những ai đói rách bần cùng, những người đang gặp hoạn nạn, chúng ta hãy giúp họ theo khả năng của mình, với tư cách là một Ki-tô hữu, để họ bớt khổ đau. Các môn đệ rất đỗi ngạc nhiên về những lời của Đức Giê-su vì các ông không thể cho một đám đông như thế ăn được. Các ông đáp : “Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá !” Trong Tin Mừng Gio-an, ông An-rê thêm : “Nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu !” (Ga 6,9). Đúng như vậy, lệnh của Đức Giê-su là không thể thực hiện được. Nhưng Đức Giê-su giải quyết cách khác, Người bảo các môn đệ : “Đem lại đây cho Thầy !” Tiếp đó Người truyền cho dân chúng ngồi xuống. “Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng.” Trong ngôn ngữ Do-thái giáo, chúc tụng Thiên Chúa có nghĩa là tạ ơn Người. Sau khi Gio-an Tẩy Giả chào đời, ông Da-ca-ri-a chúc tụng Thiên Chúa khi nói : “Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa Ít-ra-en, đã viếng thăm cứu chuộc dân Người.” Chúng ta cũng vậy, trong phần dâng lễ vật, chúng ta cũng tạ ơn Chúa Cha khi nói : “Lạy Chúa là Chúa Cả trời đất, chúc tụng Chúa đã rộng ban cho chúng con bánh này là hoa màu ruộng đất và công lao của con người, chúng con xin dâng lên Chúa để trở nên bánh trường sinh cho chúng con.” Lời chúc tụng dâng lên Thiên Chúa có nghĩa là tạ ơn Người. Đức Giê-su tạ ơn Chúa Cha vì tất cả những gì Người nhận được do lòng nhân hậu của Cha Người. Quả thật, Người xác tín rằng lòng quảng đại của Cha trên trời thật lớn lao và Chúa Cha sẽ giúp Người giải quyết vấn đề khó khăn này. Người bẻ bánh ra, trao cho các môn đệ và các môn đệ trao cho đám đông. Tất cả những việc trên xảy ra trong âm thầm : những miếng bánh không hoá nhiều một cách có thể nhìn thấy được, nhưng tất cả đều được ăn và ăn no nê đến nỗi cuối cùng, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy bánh còn thừa. Điều đó cho thấy lòng quảng đại của Thiên Chúa to lớn đến mức nào. Tất cả đám đông có thể ăn no nhờ vào sự kết hợp của Đức Giê-su với Cha trên trời, nhờ vào lời cầu nguyện của Người, nhờ vào lòng thương xót của con tim Người và nhờ vào lòng quảng đại của Người. Phép lạ này không chỉ giới hạn vào một thời điểm nhất định nhưng còn lan toả rộng hơn nhiều, vì báo trước bí tích Thánh Thể. Trong Bữa Tiệc Ly, Đức Giê-su cầm lấy bánh, bẻ ra, và sau khi dâng lời tạ ơn, Người trao cho các môn đệ mà nói : “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em, anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,19). Lời này có nghĩa là việc làm của Đức Giê-su phải được lặp lại. Người tiếp tục nhân lên lúc nào cũng dồi dào hơn và quảng đại hơn. Đức Giê-su đến trần gian để chữa lành tâm hồn hơn là thể xác chúng ta. Người nuôi dưỡng tâm hồn chúng ta hơn là để thoả mãn đám đông đang đói ăn.

Bài đọc 1 chúng ta vừa nghe rõ ràng là nói đến của ăn thiêng liêng. Ngôn sứ I-sai-a kể lại những lời của Chúa : “Đến cả đi, hỡi những người đang khát, nước đã sẵn đây, dầu không có tiền bạc, cứ đến mua mà dùng, đến mua rượu, mua sữa, không phải trả đồng nào.” Lương thực thiêng liêng không thể mua như thức ăn vật chất. Đó là ân huệ của Thiên Chúa ban cho chúng ta trong Giáo Hội qua các bí tích dưỡng nuôi tâm hồn chúng ta và đem lại cho chúng ta sức mạnh, ánh sáng và bình an nội tâm. Vị ngôn sứ chất vấn : “Sao lại phí tiền bạc vào của không nuôi sống, tốn công lao vất vả vào thứ chẳng làm cho chắc dạ no lòng ?” Tại sao chúng ta lại quá quan tâm đến của ăn vật chất mà ít quan tâm đến của ăn thiêng liêng ? Vì thế “Hãy chăm chú nghe đây, thì các ngươi sẽ được ăn ngon, được thưởng thức cao lương mỹ vị.” Đó là một lời mời gọi đón nhận ân huệ của Thiên Chúa là ân huệ độc nhất vô nhị : Tình yêu của Người biến đổi đời sống của chúng ta. Tình yêu đó thông qua Thánh Tâm của Đức Giê-su và giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống thường ngày. Đó là một thứ thức ăn tuyệt vời. Thường thì chúng ta không để ý, nhưng ước muốn sâu xa nhất của chúng ta là được đón nhận tình yêu của Thiên Chúa. Đó là ơn gọi của chúng ta : chúng ta được tạo dựng để yêu thương và được yêu khi liên kết với Thiên Chúa và Đức Ki-tô.

Bài đọc 2 cho ta thấy giá trị và sức mạnh của tình yêu này. Thánh Phao-lô đặt vấn đề : “Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo ?” Rồi ngài kết luận : “Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta.” Ở đây chúng ta nhờ sức mạnh mà tình yêu Thiên Chúa ban cho chúng ta qua Đức Giê-su lan toả ra. Tình yêu đó đem lại cho chúng ta khả năng biến mỗi trở ngại thành một dịp giúp ta tiến triển trong đời sống yêu thương. Thánh Phao-lô còn nói thêm : “Cho dù là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thụ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.” Chúng ta không chỉ đón nhận tình yêu này một cách thụ động nhưng là một tình yêu giúp chúng ta có khả năng yêu thương. Đó là thứ lương thực chúng ta cần. Trong đời sống thường ngày, không có gì quan trọng hơn là luôn duy trì trong mọi tình huống khả năng sống yêu thương và luôn xử sự bác ái trong mọi tương giao thường ngày với tha nhân. Thay vì sống ích kỷ, kiêu căng và ngờ vực, hay chán nản, thì nhờ lương thực thiêng liêng này, chúng ta được thêm sức mạnh và ánh sáng để biến những thử thách gian truân thành dịp thuận tiện để biểu lộ lòng gắn bó với Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.

* Phép lạ hoá bánh ra nhiều dạy cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa ban cho chúng ta một thứ thức ăn giúp chúng ta có khả năng yêu thương và ban cho chúng ta một niềm vui sâu xa, mà niềm vui sâu xa nhất là niềm vui yêu thương một cách quảng đại.

 

Cầu nguyện :

Lạy Chúa, xin ban cho con một trái tim trong sạch để con nhìn thấy Chúa.
Xin ban cho con một trí óc khiêm nhường để con nghe tiếng Chúa.
Xin ban cho con một tinh thần tình yêu để con phụng sự Chúa.
Xin ban cho con tinh thần đức tin để con sống trong Chúa.
Lạy Chúa, Chúa là Đấng con không biết mà con lại thuộc về Đấng ấy.
Lạy Chúa, Chúa là Đấng con không hiểu được, nhưng là Đấng định đoạt số phận đời con.

(Daf Hamarskjold – Nguyên Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc)

Tự vấn :

Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta có quảng đại giúp đỡ những người nghèo khổ bất hạnh, những ai đói rách bần cùng đang sống chung quanh chúng ta không ?

 

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Một biến cố biểu tượng nhiều ý nghĩa”

(J. Potin, trong “Jésus, L’histoire vraie”, Centurion, tr. 276-277).

Thực tế mà nói, biến cố ấy có một tầm mức mà những người chứng kiến không thể lĩnh hội hết mọi chiều kích. Sau này các tín hữu sẽ không chỉ xem đó là kỷ niệm việc hoá bánh và cá ra nhiều mà thôi. Tất cả mọi chiều kích của ơn cứu độ Đức Giê-su Ki-tô mang đến cho toàn thể nhân loại, được diễn tả qua phép lạ này. Người là Mô-sê mới. Cũng như ông Mô-sê, Người đã dẫn Ít-ra-en, từ bên kia biển, đi qua sa mạc, để tìm Đất Hứa. Như ông Mô-sê, sau lễ mừng Vượt Qua đầu tiên đã ban bố Lề Luật cho dân, thì ở đây, dân chúng cũng đã được nghe Người loan báo Luật mới của Nước Trời. Dân chúng đông đảo. Thánh Mát-thêu nói rõ là bốn hoặc năm ngàn người, không kể đàn bà và con trẻ. Đức Giê-su đã chia họ thành từng nhóm năm mươi hoặc một trăm cũng như ông Mô-sê xưa đã tổ chức nhóm nô lệ chạy trốn này thành một dân tộc chính cống.

Xưa, để nuôi dân Ít-ra-en, Thiên Chúa cho họ man-na mỗi ngày. Cũng thế, để nuôi những kẻ theo Người, Đức Giê-su hoá bánh ra nhiều. Nhưng bánh này không phải chỉ là đồ ăn nuôi xác mà thôi, Đức Giê-su còn loan báo bánh Thánh Thể mà Người sẽ phân phát cho các môn đệ của Người chiều hôm trước ngày chịu chết và là bánh các môn đệ đến phiên mình cũng sẽ phân phát cho các tín hữu trong các cộng đồng tụ họp lại nhân danh Người. Vì thế, hình ảnh chàng trẻ tuổi làm phép lạ sẽ mờ nhạt đi sau con người Đấng Cứu Thế, Đấng mà trong bữa ăn cuối cùng đã phán : “Đây là Mình Thầy, hiến dâng vì anh em.” Không thể gợi nhớ lại cảnh tượng xảy ra ở ven Biển Hồ mà lại không nghĩ đến cảnh ở nhà Tiệc Ly. Buổi chiều hôm đó, Nhóm Mười Hai là tất cả Giáo Hội non trẻ. Đám đông hưởng phép lạ lúc ấy há chẳng phải là hình ảnh loan báo Ít-ra-en mới mà Thiên Chúa ban cho dư đầy của cải Nước Trời sao ? Thì sách Xuất hành cũng đã tường thuật rồi đó : chiều hôm trước ngày Sa-bát, Thiên Chúa đã ban cho dân Người khẩu phần man-na gấp đôi, để họ giữ lại cho ngày hôm sau, vì ngày hôm đó không có man-na rơi xuống. Đức Giê-su cũng vậy, Người đã không đành chỉ làm dịu cơn đói, mà còn ban cho họ lương thực dự trữ để tiếp tục con đường. Quả thật, sau khi dân chúng ăn no nê, các môn đệ thu lại các mẩu bánh thừa được mười hai thúng, theo thánh Mát-thêu (con số biểu tượng Giáo Hội). Chúa Giê-su quả thật làm no đầy những kẻ thuộc về Người.

Nhờ việc sử dụng bài thường thuật về việc ra khỏi Ai-cập, và hơn nữa, bài nói về việc Chúa lập bí tích Thánh Thể mà biến cố hoá bánh ra nhiều được kể lại trong các Tin Mừng có được một tầm mức biểu tượng nói lên rất nhiều điều, biểu tượng ấy đã nuôi dưỡng việc rao giảng của Giáo Hội.

2. “Giáo Hội không thể là Giáo Hội mà không chia sẻ tình yêu của Chúa cho mọi người”

(Mgr. L. Daloz, trong “Le Règne des cieux s’est approché”, Desclée de Brouwer, tr. 219-220).

Giáo Hội có sứ mạng biểu lộ và làm cho người ta chia sẻ cho mọi người tình yêu thương và lòng nhân ái của Thiên Chúa. Điều đó không chỉ giới hạn trong nội bộ của chính Giáo Hội, mà còn vì Giáo Hội có liên quan với tất cả nhân loại. Giáo Hội chỉ có thể là một căn nhà mở ra tứ phía, đón gió muôn phương. Các tín hữu là những người sống liên đới với đồng bào của mình, với những người sống cùng thời với mình, nên các tín hữu ấy chia sẻ những vấn đề, những niềm vui và những nỗ lực của họ. Đức Giê-su luôn luôn tiếp đón đám đông là một mẫu gương luôn luôn hiện thực đối với ta. Ở mọi thời đại, các tín hữu đã dấn thân không biết mệt mỏi để phục vụ con người ; họ phục vụ cách nhưng không, không đòi hỏi được đền đáp, không bận tâm về vấn đề chủng tộc hay tôn giáo. Thời nay, nhờ những phương tiện thông tin đại chúng, các nhu cầu của con người được truyền đi mau lẹ và được toàn cầu biết đến, thì Giáo Hội nhất thiết phải quan tâm đến mọi nỗi thống khổ của con người, mọi tiếng kêu gọi có tính nhân đạo. Giáo Hội không thể sống khép kín, chỉ biết lo lắng cho những phần tử của mình. Trong mọi lãnh vực thăng tiến nhân loại, bênh vực quyền con người, Giáo Hội phải là người có mặt. Giáo Hội không thể là chính mình, nếu không quảng đại chia sẻ tình yêu của

Chúa cho dân chúng mà Người luôn luôn quan tâm.

 

Suy niệm 2: (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

CHÚA BAN LƯƠNG THỰC CHO LOÀI NGƯỜI

+++

A. DẪN NHẬP

  Mọi sinh vật trên mặt đất này cần phải có một thứ lương thực thích hợp để nuôi sống. Con người cũng là một sinh vật nên cũng phải theo qui luật bất di bất dịch ấy. Nhưng con người lại khác với những sinh vật khác ở chỗ ngoài sự sống vật chất còn có sự sống tinh thần, sự sống thần linh mà lương thực trần gian không thể đáp ứng được. Căn cứ vào lời Chúa Giêsu nói với quỉ đến cám dỗ Ngài: “Người ta không sống nguyên bởi bánh”. Như vậy con người còn có một thứ lương thực đặc biệt khác, đó là lương thực thần linh.

 Mọi người đói khát hãy đến với Chúa vì theo ý Chúa Cha, Đức Giêsu đã tự hiến dâng để làm dịu cơn đói khát lương thực thiêng liêng ấy. Ngày nay Hội thánh dạy chúng ta: lương thực thần thiêng nuôi dưỡng chúng ta đó là Lời Chúa và Thánh Thể. Khi đã được Chúa nuôi dưỡng bằng lương thực ấy, chúng ta cũng có trách nhiệm phải làm cho người khác cũng được nuôi dưỡng như vậy vì: “Các con đã lãnh nhận nhưng không thì cũng phải cho đi nhưng không”.

 Thiên Chúa như nguồn nước, Ngài không ngừng thông ban ân phúc cho con người qua các Bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể và Lời Chúa, nên các môn đệ Chúa ngày nay mặc dù không có khả năng sản xuất ra lương thực nuôi dân, nhưng họ sẽ gắng sức, tận dụng tài năng, trí lực của mình để đón nhận ân sủng của Thiên Chúa, rồi trao ban cho con người để người người biết cộng tác vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa, làm giàu mặt đất và đem lại hạnh phúc cho nhân loại.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+ Bài đọc 1: Is 55,1-3

 Khi thời gian lưu đày ở Babylon sắp hết, tiên tri Isaia được sai đến kêu gọi toàn dân (-540) khi thoát cảnh lưu đày trở về xây dựng lại đất nước, hãy “lắng tai và đến cùng Ta, hãy nghe thì sẽ được sống”. Thiên Chúa mời gọi người ta đến dự một bữa tiệc do Người khoản đãi. Bữa tiệc sẽ có những cao lương mỹ vị, hoàn toàn miễn phí, không phải trả đồng xu nào.

 Với hình ảnh thức ăn và thức uống vật chất được tặng miễn phí cho người nghèo của Giavê, Isaia muốn dạy chúng ta phải biết thèm muốn và tìm lương thực tâm linh là Lời Chúa và tình thân hữu với Chúa. Như vậy, hình ảnh bữa tiệc mang ý nghĩa tượng trưng:

– Tượng trưng cho sự thỏa mãn những khát vọng của con người.

          – Tượng trưng cho hạnh phúc Nước trời.

+ Bài đọc 2: Rm 8,35.37-39

 Trong đoạn thư này, thánh Phaolô biểu lộ niềm tin và niềm hy vọng vào Chúa Kitô. Tình yêu của Chúa Kitô chiến thắng tất cả, vì thế không có gì có thể tách biệt chúng ta ra khỏi lòng mến của Đức Kitô, dù bị gian nan thử thách như gian truân, buồn sầu, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, bắt bớ, gươm giáo.

 Chúa yêu thương chúng ta như chưa có ai đã thương như thế bao giờ. Ngay từ bây giờ chúng ta tham dự cuộc sống thần thánh của Người trong khi chờ đợi chúng ta chia sẻ vinh quang của Người trên trời.

+ Bài Tin mừng: Mt 14,13-21

 Thánh Mátthêu mô tả việc Chúa Giêsu làm cho bánh hóa ra nhiều để nuôi hơn 5000 người ăn. Phép lạ cũng được cả bốn Thánh sử ghi chép lại, nói lên sự quan trọng của sự việc. Chiều đến, Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Họ chẳng cần phải đi đâu, anh em hãy cho họ ăn”. Việc biến hoá bánh ra nhiều là biểu tượng phép Thánh Thể mà Chúa sẽ thiết lập sau này. Thánh Thể cũng sẽ là lương thực, là của ăn của nhân loại trên đường về quê trời. Và Chúa Giêsu cũng thiết lập vào một buổi chiều tối, Giáo hội tiên khởi cũng “bẻ bánh” lúc đêm về.

 Phép Thánh Thể là bí tích của đoàn người đi trong sa mạc, trong đêm tối dưới ánh sáng Chúa Phục sinh, như ngày xưa dân Chúa đi qua sa mạc dưới ánh cột lửa và nhờ manna nuôi sống.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA: Lương thực dưỡng nuôi chúng ta

I. NHU CẦU CỦA CON NGƯỜI

 Con người được kết hợp bởi hai phần: linh hồn và thể xác. Mỗi phần có những nhu cầu khác nhau. Con người không những cần phải được thỏa mãn những nhu cầu vật chất nhưng còn những nhu cầu tinh thần nữa.

1. Nhu cầu vật chất

 Con người cũng như các sinh vật phải ăn mới có thể sống. không ăn không uống là chết, đó là qui luật tự nhiên cho mọi sinh vật trên mặt đất này. Người Việt Nam chúng ta hay nói:

Dĩ thực vi tiên hay Có thực mới vực được đạo

 Người Tây phương cũng nói giống thế: “Ăn đã rồi hãy triết lý” (manducare priusquam philosophare).

 Điều ấy chứng tỏ rằng ăn uống là cần thiết và cũng là điều kiện tất yếu của sự sống.

 Một cuộc nghiên cứu có tính cách quốc tế cho biết một nửa dân số thế giới không được cung cấp đủ nước sạch và 450 triệu người mỗi đêm đi ngủ mà bụng đói meo. Nhiều nước châu Phi đã bị nạn đói hoành hành trầm trọng cần được Liên Hợp Quốc cứu trợ.

 Xem ra loài người được cho là thông minh nhất vẫn mãi mãi lo giải quyết cái ăn cái mặc. Và oái oăm thay vẫn những phương tiện tối tân như cơ giới hóa việc cày cấy, gieo trồng lúa đúng khoa học kỹ thuật, thay trời làm mưa gió để tăng năng xuất, thế mà dường như thế giới loài người càng ngày càng nghèo hơn, đói khổ lan tràn.

 Ở Việt Nam chúng ta, chương trình xoá đói giảm nghèo đang được xúc tiến mạnh mẽ, hy vọng dân chúng sẽ bớt nghèo đói. Phải chăng đói khổ mãi mãi là hậu quả của tội nguyên tổ mà con cháu loài người chúng ta phải lãnh đủ lời nguyền rủa của Thiên Chúa “phải khó nhọc bưới đất nhặt cỏ mới có của ăn”.

 Chúng ta nên nhớ rằng Thiên Chúa đã tạo dựng nên trái đất này, một trái đất phong phú, sản sinh ra đầy đủ đến dư thừa mọi lương thực chẳng những cho loài người mà còn cho muôn loài. Cho nên trên căn bản là Chúa bảo đảm cho con người được no nê.

2. Nhu cầu tinh thần

 Con người tuy cũng là con vật nhưng là một con vật có lý tính (Homo est animal rationale) không những chỉ đòi hỏi thỏa mãn nhu cầu vật chất mà còn đòi hỏi thỏa mãn những nhu cầu cao hơn vật chất: đó là những khát vọng cao hơn và quí hơn như bình an sâu sắc, tình yêu chân thật, sự sống vĩnh cửu… Chân, thiện, mỹ tuyệt đối. Những khát vọng này không ai và không cái gì có thể thỏa mãn cho chúng ta, ngoài một mình Thiên Chúa.

 Chúa Giêsu rao giảng ở đâu thì người ta tấp nập kéo đến khắp nơi từ thành thị đến thôn quê. Người ta đến quấy rầy Chúa đến nỗi Ngài và các môn đệ không có thì giờ nghỉ ngơi ăn uống. Số người đến nghe Chúa rao giảng rất đông. Nếu chỉ tính riêng đàn ông mà đã tới 5,000 người thì con số sẽ lên đến 10,000 hay hơn nữa nếu kể cả đàn bà và con nít. Họ say mê đi nghe Chúa giảng đến nỗi quên cả thời gian, quên cả ăn uống. Như trong bài Tin mừng hôm nay, sau khi đã giảng dạy dân chúng lâu giờ, trời đã xế chiều, có lẽ vào khoảng 3 giờ chiều, các môn đệ giục Chúa cho họ về, vào làng mạc mà mua thức ăn, kẻo ở nơi hoang địa thì không có gì ăn và đêm đã xuống dần.

II. CHÚA THOẢ MÃN NHU CẦU CON NGƯỜI

 Thánh Mátthêu cho biết, khi hay tin Chúa Giêsu xuống thuyền đi đến chỗ hoang vắng riêng biệt thì dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người. Chúa Giêsu thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương vì họ như đàn chiên không có người chăn. Họ đến với Chúa như đến với vị mục tử nhân lành, họ đặt tin tưởng vào Chúa. Đáp lại, Chúa Giêsu chữa lành nhiều bệnh nhân và đáp ứng nhu cầu vật chất cho họ.

 Dân chúng say mê nghe Chúa giảng, quên ăn quên uống, nhưng dù sao dạ dày của họ cũng phải nổi loạn khi không được cung cấp thức ăn thức uống cho nó. Bóng chiều đang xuống dần mà dân còn đang ở trong nơi hoang vắng xa làng mạc thành thị, họ ra về, đường còn xa sợ có người đói lả dọc đường. Chúa Giêsu muốn các môn đệ cho họ ăn. Nhưng trong hoang địa này lấy đâu ra lương thực cho ngần ấy người ăn. Ở đây chỉ có thằng nhỏ có 5 chiếc bánh và 2 con cá. Bằng ấy thực phẩm thì nhằm nhò gì với một biển người như vậy! Nhưng Chúa Giêsu cứ bảo họ ngồi xuống thảm cỏ để cho Người làm việc. Thánh Mátthêu kể: “Người cầm lấy 5 chiếc bánh và 2 con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho môn đệ, và môn đệ trao cho đám đông. Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được 12 giỏ đầy”.

 Lời giảng của Chúa đã làm cho dân chúng say mê. Lời Chúa là thức ăn nuôi dưỡng và bồi bổ cho linh hồn. Tuy thế, Chúa không quên thoả mãn nhu cầu vật chất cho họ, vì họ là con người có hồn có xác, phải được nuôi dưỡng đầy đủ. Như vậy Chúa thực hiện lời khuyên: “Tiên vàn hãy tìm Nước Thiên Chúa, còn mọi sự khác Người sẽ thêm cho”.

 Ngoài thức ăn vật chất, Chúa Giêsu còn muốn hướng con người đến một thức ăn khác nữa, cần thiết hơn, quí trọng hơn. Bởi đó, sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, người ta tiếp tục tuốn đến với Chúa mong Người tái diễn phép lạ ấy, nhưng Người đã lánh họ mà đi. Theo tường thuật của thánh Gioan, Người còn nói với họ: “Các ngươi tìm Ta chỉ vì đã được ăn bánh no nê. Hãy nỗ lực tìm kiếm thứ lương thực nuôi dưỡng sự sống muôn đời”. Thứ lương thực ấy chính là bản thân của Chúa Giêsu, được ban cho chúng ta qua bí tích Thánh Thể.

III. CHÚA CẦN CHÚNG TA CỘNG TÁC

 Ở đây diễn tả lòng nhân đạo của các Tông đồ đối với dân chúng. Nhưng lòng nhân đạo này chỉ có tính cách hạn hẹp theo khả năng tự nhiên của con người, nên bất lực không thể lo cho họ ăn được. Vì thế ở đây muốn nói lên sự hạn hữu và bất lực của con người nơi các Tông đồ nhưng chính sự bất lực này làm nổi bật quyền năng của Thiên Chúa qua Chúa Giêsu trong việc làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi đám đông dân chúng.

 Chúa Giêsu biết rõ các Tông đồ bất lực trong việc cho dân chúng ăn no, nhưng Người vẫn ra lệnh cho các ông để chứng tỏ việc phân phát có ý nghĩa như một trung gian, cho dân chúng ăn là việc các Tông đồ làm được, còn việc làm cho có bánh nhiều là việc các Tông đồ bất lực thì chính Người sẽ làm thay (x Ga 6,6) (Lm. Trần Hữu Thành, Suy niệm Tin mừng Chúa nhật năm A, tr 235-236).

 Chúa Giêsu không muốn làm việc một mình, Ngài muốn cho chúng ta cộng tác, mỗi cái Ngài làm một nửa, Ngài để công việc còn “dang dở” cho chúng ta tiếp tục.

 Chiều hôm ấy, đám dân chúng đói không có gì ăn. Các môn đệ không đủ bánh, nghĩa là có nhưng thiếu; hoặc nói cách khác là có mà dở dang. Chúa không vất cái dở dang ấy rồi tự mình làm phép lạ. Chúa bảo đem cái dở dang ấy đến. Sao Chúa không làm phép lạ cho có bánh, mà chỉ làm phép lạ cho bánh hóa ra nhiều? Sao Chúa ưa thích cái dang dở của các Tông đồ làm chi? (Mc 6, 36-43)

 Chúa thích làm phép lạ dang dở. Chúa làm có một nửa nên nhân loại mới được góp phần trong công việc trọng đại ấy. Cái dang dở Chúa để xảy ra là dang dở huyền nhiệm. Thiếu dang dở này con người thiệt thòi biết bao. Cần có những dang dở của Chúa để dang dở của con người hết dở dang. Con người không thể làm phép lạ tự cứu lấy mình. Chúa cũng không cứu con người khi con người không tự do lãnh nhận. Phép lạ của Chúa cần là phép lạ một nửa, phép lạ dang dở để tôi được tham dự. Cái dở dang của Chúa là chỗ trống cho tôi bước vào. Cái dở dang của Chúa thật là huyền diệu, sâu thẳm (Lm. Nguyễn Tầm Thường, Viết trong tâm hồn, tr 7).

 Các Tông đồ chỉ kiếm cho Chúa được có 5 cái bánh và 2 con cá. Thật là một đóng góp quá nhỏ nhoi, nhưng thực ra, chỉ cần bằng ấy đã quá đủ đối với Chúa. Chúa không muốn làm phép lạ tự không mà có bánh cho họ ăn, nhưng Chúa muốn cho con người đóng góp một chút để cộng tác với Chúa. Như vậy, phép lạ hóa bánh ra nhiều là kết quả của sự kết hợp giữa quyền năng vô biên của Chúa với sự cộng tác nhỏ bé của con người.

 Việc này muốn dạy rằng để giải quyết kinh tế, con người với trí óc thông minh và sức lực sẵn có của mình tự tìm kiếm miếng cơm manh áo cách chính đáng trước, còn thiếu những gì Chúa sẽ bù đắp thêm. Cho nên phải tránh tính ỷ lại, lòng cậy trông kiểu khoán trắng cho Chúa an bài, còn mình ngồi không mà thụ hưởng hay kiêu căng tự phụ cho mình làm ra tất cả, chẳng ai giúp đỡ kể cả Thiên Chúa.

Truyện: Người chạnh lòng thương

 Mẹ Têrêsa Calcutta thuật lại một câu chuyện như sau: Một hôm, có một cặp vợ chồng trẻ đến thăm tu viện và trao tặng cho chúng tôi một khoản tiền lớn, bảo là để đóng góp vào chi phí mua thức ăn cho những người nghèo.

 Ở Calcutta mỗi ngày dòng Nữ tử Bác ái Truyền giáo chúng tôi phải cung cấp lương thực cho 9,000 người. Bởi đó không lạ gì hai bạn trẻ này muốn dùng khoản tiền họ tặng vào mục tiêu trên.

 Thấy họ còn quá trẻ, tôi tò mò hỏi:

– Hai con có thể cho mẹ biết tiền đâu mà hai con có nhiều thế?

 Họ trả lời:

– Chúng con vừa cưới nhau được hai ngày. Chúng con quyết định không may đồ cưới, cũng không tổ chức linh đình, để dùng tiền đó giúp những người kém may mắn hơn chúng con.

 Mẹ Têrêsa hỏi tiếp:

– Ở Ấn độ, không có quần áo cưới và tiệc cưới là điều nhục nhã. Tại sao các con lại quyết định táo bạo như thế, làm phật lòng cha mẹ và họ hàng?

 Họ thưa:

– Chúng con yêu nhau và muốn tặng nhau món quà cưới đặc biệt. Chúng con muốn khởi đầu cuộc chung sống bằng một hy sinh mà cả hai cùng đóng góp vào (Thiên Phúc, Như Thầy đã yêu, tr 106-107).

 Hôm nay, Người cũng mời gọi chúng ta góp phần nhỏ bé và âm thầm của mình cho anh em. Người chờ đợi nơi chúng ta một chút lòng chạnh thương. Và cả thế giới được hưởng chung phép lạ lẫy lừng của Thiên Chúa.

 Thực ra, con người chỉ tìm được ý nghĩa cho cuộc sống khi biết chia sẻ cho đi. Con người chỉ lớn lên theo mức độ của sự trao ban vô vị lợi mà thôi. Có biết trao ban thì con người mới thực sự triển nở trong nhân cách. Có biết trao ban thì con người mới vui sống và tìm được hạnh phúc đích thực trong cuộc sống. Triết gia Platon quả quyết: “Con người chỉ tìm được hạnh phúc khi làm cho người khác được hạnh phúc”. Sách Công vụ Tông đồ cũng đã ghi lại khuôn vàng thước ngọc của Chúa Giêsu: “Cho thì có phúc hơn nhận lãnh” (Cv 20,35).

 Chúng ta hãy làm cho thế giới này được hạnh phúc. Chắc chúng ta cho rằng mình chỉ là hạt cát trong biển cả làm sao có thể làm gì cho thế giới? Đúng vậy, chúng ta quá nhỏ nhoi và yếu đuối, tài hèn, nhưng Thiên Chúa chỉ cần chúng ta đúng góp phần nhỏ mọn của chúng ta như một dụng cụ trung thành, còn bao nhiêu hãy dành cho Chúa. Cậu bé với 5 cái bánh và 2 con cá làm sao có thể làm cho ngần ấy người ăn no lại còn thu được 12 thúng đầy? Cậu không làm được, nhưng Chúa làm được. Thiên Chúa sẽ hoàn chỉnh được những cái “dang dở” của ta.

 Trong thời kỳ mới tìm hiểu đạo Chúa, Premanand đến liên lạc với Giám mục Whiley ở Ranchi. Ông viết: “Vị giám mục đọc Kinh thánh với tôi mỗi ngày. Đôi khi tôi đọc tiếng Bangal. Càng sống gần vị giám mục, tôi càng đến gần ngài hơn, và Chúa Cứu thế càng được bày tỏ cho tôi qua đời sống của ngài. Hành động và lời nói của ngài khiến tôi dễ hiểu được giáo huấn của Chúa Giêsu về những điều tôi đọc trong Kinh thánh mỗi ngày. Tôi có một sự hiểu biết mới về Chúa Giêsu khi tôi nhìn thấy cuộc đời yêu thương, hy sinh và từ chối bản thân của Chúa Cứu thế trong đời sống hằng ngày của vị giám mục, đối với tôi ngài thực sự là sứ giả của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu cần những môn đệ để Ngài có thể làm việc qua họ, và nhờ họ đem chân lý và tình yêu của Ngài đến với đời sống của người khác. Không có những người như vậy, Ngài không thể làm việc. Phận sự chúng ta là làm những người đó cho Ngài. Người ta dễ lo sợ nản lòng đối với một công tác to lớn như vậy”.

 Nhưng còn một điều khác trong câu truyện này có thể nâng cao tinh thần của chúng ta. Khi Chúa Giêsu bảo môn đệ cho đám đông ăn, họ bảo chỉ có 5 cái bánh và 2 con cá. Với những thứ họ mang đến đó, Chúa Giêsu đã làm phép lạ. Chúa đặt trên mỗi chúng ta một công tác trọng đại là truyền đạt Ngài cho người khác, nhưng Ngài không đòi hỏi chúng ta những tài năng, tiền của và những phẩm tính mà chúng ta không có. Ngài bảo chúng ta: “Hãy đến với Ta bằng con người thật của ngươi, dù nó nghèo nàn, hãy mang đến Ta điều gì ngươi có, dù ít ỏi, và Ta sẽ sử dụng nó một cách lớn lao trong công việc của Ta” (TVH, Tin mừng Chúa nhật, năm A, tr 192).

 Chúng ta hãy kết thúc với bài thơ của Amado Nervo, một đại thi sĩ cũng là một nhà huyền bí, người Mễ Tây Cơ. Bài thơ này tóm tắt sứ điệp và tinh thần bài Tin mừng hôm nay:

Con chỉ là một tia lửa,

xin biến con thành ngọn lửa.

Con chỉ là một sợi dây,

xin biến con thành chiếc đàn.

Con chỉ là một ngọn đồi cỏn con,

xin biến con thành ngọn núi.

Con chỉ là một giọt nước,

xin biến con thành một dòng suối.

Con chỉ là một cọng lông,

xin biến con thành chiếc cánh.

Con chỉ là gã ăn mày,

xin biến con thành một ông vua”.

 

Suy niệm 3: (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu S.J.)

Mt 14,13-21

NO NÊ DƯ THỪA

Phép lạ bánh hóa nhiều là một phép lạ đặc biệt,

vì được cả bốn sách Tin Mừng kể lại,

vì những người chứng kiến và thụ hưởng là một đám đông lớn,

và vì các môn đệ được cộng tác với Thầy Giêsu trong phép lạ này.

 

“Xin Thầy giải tán dân chúng để họ đi mua thức ăn” (Mt 14,15).

Các môn đệ bén nhạy khi nhận ra nhu cầu có thật của dân chúng.

Bây giờ trời đã về chiều, và đây lại là nơi vắng vẻ.

Họ đã theo Thầy cả ngày, bụng đã đói,

nên Thầy cần cho họ về để họ đi mua thức ăn.

Lời của các ông khơi mào cho Thầy Giêsu đi đến một quyết định.

 

“Họ không cần phải đi mua. Chính anh em hãy cho họ ăn” (Mt 14,16).

Lời của Thầy làm các ông ngỡ ngàng chưng hửng.

Thầy giao cho các ông sứ mạng nuôi đám đông lớn ngần này,

cho họ ăn miễn phí, không phải tốn tiền đi mua !

Làm sao các ông có thể thực hiện được mệnh lệnh đó ?

“Ở đây chúng con chỉ có năm ổ bánh và hai con cá !”

Đó là tất cả những gì các ông có trong hiện tại.                                                                                                        

Nhưng bấy nhiêu thì đáng là gì so với nhu cầu của đám đông !

Các ông cảm thấy bất lực, bế tắc và thất vọng.

 

“Đem lại đây cho Thầy !” (Mt 14,18).

Thầy Giêsu bảo các ông cứ đưa cho Thầy tất cả những gì đang có.

Thầy cần cái vốn liếng nhỏ bé đó của các ông.

Thầy cần các ông trao tất cả cho Thầy và an tâm để Thầy định liệu.

Năm ổ bánh và hai con cá từ tay các ông được chuyển qua tay Thầy.

Thầy sẽ chẳng làm gì nếu con người không tích cực đóng góp.

 

Vào buổi chiều mùa xuân, tại vùng đất hoang vắng,

Thầy lệnh cho đám đông ngả mình trên thảm cỏ xanh.

Tay cầm bánh, Thầy dâng lời chúc tụng lên Cha trên trời,

bẻ bánh ra và trao cho các môn đệ, để các ông trao lại cho dân chúng.

Những ổ bánh đã đi một vòng.

Từ tay môn đệ đến tay Thầy Giêsu,

Thầy dâng bánh lên chúc tụng Cha trên trời, và trao lại cho các ông,

các ông đã trao lại cho đám đông dân chúng.

Bánh cứ được bẻ ra khi trao đi.

Lạ thay, khi bẻ ra, bánh chẳng những không nhỏ đi mà lại tăng lên.

Năm ổ bánh nuôi được ít là năm ngàn người, ăn no nê.

Mười hai môn đệ làm công tác cuối cùng:

đi thu lại mảnh bánh vụn được đầy mười hai thúng.

 

Phép lạ bánh hóa nhiều không chỉ diễn ra một lần.

Ngày nào trên thế giới này còn có người đói,

Đức Giêsu còn muốn chúng ta giúp Ngài cho họ ăn.

“Chính anh em hãy cho họ ăn !”

Mệnh lệnh này vẫn vang lên và làm chúng ta lúng túng,

Vì nguồn lực, khả năng, thời gian, sức khỏe của ta có giới hạn.

Lắm khi ta muốn bỏ cuộc, buông xuôi.

Nhưng Đức Giêsu chỉ đòi ta đặt tất cả những gì mình đang có

vào bàn tay quyền năng và nhân ái của Ngài.

Nếu ta dám trao cho Chúa số bánh và cá ít ỏi của đời ta,

và nếu ta dám trao cho Dân Chúa những gì Chúa trao lại,

thì phép lạ bánh hóa nhiều lại tiếp tục diễn ra hôm nay.

 

Đừng ngại bẻ ra và trao đi những gì mình có.

Hãy liều lĩnh tin vào mầu nhiệm của sự chia sẻ.

Chia sẻ chỉ làm người nhận và cả người cho được giàu lên.

Nếu ta cứ giữ lại, năm ổ bánh vẫn chỉ là năm ổ bánh.

Năm 2019, có gần 690 triệu người đói trên thế giới.

Với dịch bệnh hiện nay, năm 2020 sẽ có thêm 130 triệu người.

Thiên Chúa vẫn chờ ta cộng tác để Ngài làm phép lạ nuôi họ.

 

CẦU NGUYỆN

Lạy Chúa Giêsu,

Chúa đã có kinh nghiệm về cái đói,

sau khi ăn chay bốn mươi ngày trong hoang địa.

Sau khi được dân chúng tung hô lúc vào thành Giêrusalem,

Chúa cũng đói đến mức phải tìm trái nơi cây vả.

Chúa đã xin nước uống nơi người phụ nữ Samari,

và Chúa đã nếm cái khát của người bị mất máu trên thập giá.

                                       

Lạy Chúa Giêsu, vì Chúa có thân xác như chúng con,

nên Chúa đã bênh các môn đệ khi họ bứt lúa mà ăn vì đói,

Chúa đã làm phép lạ bánh hóa nhiều vì sợ người ta xỉu dọc đường,

Chúa đã bảo người ta cho cô bé mới hồi sinh được ăn.

 

Đói khát là chuyện bình thường của thân xác con người,

và Chúa chẳng bao giờ coi thường

những nhu cầu chính đáng của nó.

Nhưng xin nhắc chúng con nhớ rằng

con người không chỉ sống nhờ cơm bánh, mà còn nhờ Lời Chúa,

con người không chỉ đói khát thức ăn vật chất

mà còn khao khát những giá trị tinh thần của Nước Trời.

 

Xin dạy chúng con đừng khép cửa lòng

như ông nhà giàu xây thêm kho.

Nhưng biết chia sẻ cho những Ladarô đang nằm ngoài cổng,

Xin cho chúng con hiểu được giá trị của một ly nước được trao đi,

một tấm bánh giữa đêm khuya cho người bạn mượn,

và chút vụn bánh rơi xuống từ bàn ăn đủ nuôi một người.

 

Lạy Chúa Giêsu,

Chúa là người đói khát vẫn ngửa tay xin chúng con mỗi ngày

mà chúng con không hay.

Xin giúp chúng con bắt chước Chúa trong bữa tiệc cuối cùng

dám bẻ ra và trao đi tấm bánh đời mình để phục vụ tha nhân.

Ước gì mai này chúng con được đồng bàn với Chúa

và với mọi người thành tâm thiện chí trong Nước Trời.

 

Suy niệm 4: (Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ)

Câu chuyện

Nakamura, một thiếu nữ Nhật, 18 tuổi, gia nhập đạo Công giáo được bốn năm, từ ngày vào đạo, hầu như không ngày nào bỏ tham dự thánh lễ lúc 6g30 sáng.

Ngày 6/8/1945, Mỹ thả trái bom nguyên tử đầu tiên xuống Hirôshima. Cảnh tượng tàn phá thật là khủng khiếp… Đã gần hai tuần, vị linh mục phụ trách giáo điểm truyền giáo không thấy Nakamura đi lễ nên quyết định đi thăm nàng. Ngài khổ sở len lỏi mãi, mới tới được nhà Nakamura. Hỡi ôi, nhà nàng đã sụp đổ tan tành, chỉ còn cái tường cao chừng hai thước trơ trọi đứng đó… Vị thừa sai thổn thức vòng lại phía sau nhà. Trời ơi, một cái chòi thô sơ, bốn góc là bốn cái cột, chung quanh che bằng chiếu, mành, áo quần rách, trên nóc, mấy tấm tôn kẽm xiêu vẹo. Ngài bước vào trong. Ôi lạy Chúa, một cái chõng thô sơ, ọp ẹp: Nakamura nằm trên đó, áo xống tả tơi, cháy sém, hai tay hai chân co quắp như một xác chết…

Vị linh mục khựng lại, không sao nói được một lời. Sau một lát, ngài lấy can đảm gọi tên nàng. Nakamura nhúc nhích, nhưng không sao trở mình được. Nàng bị thương nặng quá, chân tay mình mẩy, chỗ nào cũng thấy sây sát. Ở đầu vai bên phải, thịt xương cháy xám lòi ra, để một lỗ hổng, có thể đút lọt bàn tay. Vị linh mục xắn áo, lau chùi, dọn dẹp rồi giúp nàng xoay mình. Nakamura mở hai mắt nhìn vị linh mục, tràn ra mấy giọt lệ, cựa quậy tay trái như muốn giơ lên chào mà không giơ lên nổi. Nàng nói thì thầm: “Cha có đưa Mình Thánh Chúa đến cho con không?”. Vị linh mục chưa kịp trả lời nàng, thì nước mắt đã trào ra. Sau ít phút trao đổi, vị linh mục được biết, đã 14 ngày qua, trừ ra cha nàng, ông cũng bị thương nặng, mỗi ngày đem cho nàng chút ít đồ ăn, nước uống, còn ngoài ra, chẳng ai lo lắng chăm sóc nàng. Vậy mà Nakamura không một lời kêu ca than thở, không kêu xin xót thương giúp đỡ. Nàng như quên hết mọi đau đớn, ê chề, chỉ nhỏ nhẹ hỏi: “Cha có đưa Mình Thánh Chúa đến cho con không?”. Vị linh mục nghẹn ngào cảm kích cực độ, nước mắt cứ thi nhau trào ra…

Ngài trở lại nhà, lấy Mình Thánh Chúa cho Nakamura rước lễ, rồi ngài nán ở lại, lau chùi, dọn dẹp thêm chút nữatúp lều của nàng… Nakamura nhỏ nhẹ nói với ngài: “… Đã bốn năm nay, con chuẩn bị vào Dòng. Con muốn tận hiến đời con cho Chúa, muốn phục vụ hết mình những người nghèo khó, bệnh tật. Hiện giờ, con thế này, không biết Chúa sẽ dẫn dắt con về đâu? Dẫu sao, ở đâu, đi về hướng nào, ra sao, Chúa là nguồn sức mạnh, là nguồn hạnh phúc, là tất cả của con…”.

Hôm sau, vị linh mục trở lại, mang theo Mình Thánh Chúa… nhưng Nakamura đã về trời với Bạn Chí Thánh Giêsu… không còn trên mặt đất khổ đau này nữa. Nakamura mới gia nhập đạo được mấy năm, hằng ngày đi lễ ban sáng và rước lễ… bị tai nạn, cửa nhà tan nát, thương tích đầy mình, đớn đau tinh thần, thể xác, mà không một lời kêu ca, ta thán. Gặp linh mục Nakamura chỉ hỏi đến Mình Thánh Chúa… Vị thừa sai xác tín: Ngoài trường “Thánh Thể” ra, không còn trường nào khác dạy được như vậy! (Theo tạp chí “Mater nostra”, Trương Vân Thục, OSB sưu tầm).

Suy niệm

Dân Chúa khao khát nước Trời, họ bỏ tất cả để được lắng nghe và như lời dạy của Đức Kitô: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33). Ngài đã cho họ thêm: Đã làm cho họ được no đủ, họ được thỏa lòng khao khát Lời công chính, Lời đó dẫn về nước Trời. Nước đó được bắt đầu nơi tâm hồn của người theo Chúa, bởi vì khi theo và nghe Đức Kitô giảng dạy, chính Ngài thương xót và chữa lành những người bệnh tật, Ngài làm cho họ no thỏa nhu cầu sự sống con người tại “chỗ hoang vắng” (Mt 14,13), chỗ Ngài làm bánh hóa nhiều gợi lại cho chúng ta hình ảnh sa mạc mà dân Do Thái đi trong bốn mươi năm và được nuôi bằng manna, bánh bởi Trời để dân Người được sống trong hành trình về đất hứa, nơi đó “mọi người sẽ được nuôi ăn và ăn no nê” (x. Đnl 6,11; 11,15; 31,20).

Trước sự khao khát Lời Hằng Sống mà dân Chúa đứng trước sự đói khát của nhu cầu thân xác, Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “…các con hãy cho họ ăn”. Các ông thưa lại rằng: “Ở đây chúng con chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá”. Với sự lo toan của con người, các con không thể lo cho cả ngàn người, đó là sự phản ứng bất lực nơi con người trước những nhu cầu to lớn về lương thực cho năm ngàn người. Người bảo các ông: “Hãy đem lại cho Thầy”. Chúa truyền cho dân “ngả lưng trên cỏ” (Mt 14,19) có nghĩa là sửa soạn ăn, ngả lưng là tư thế để ăn, như là tư thế sẵn sàng để lãnh nhận hồng ân. “Cầm bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho các môn đệ”: Chúa làm hành động giống như trong bữa tiệc ly (x. Mt 26,26), và cũng để chỉ tới bữa tiệc sau này trên nước Trời (x. Mt 8,11-12; 22,1-10). Hành động trung tâm của nước Trời và mọi người đều ăn no. Sự dư dật này là một dấu chỉ được loan báo cho thời kỳ của Đấng Mêssia trong Kinh Thánh (x. Đnl 6,11; Tv 132,15; Is 65,10). Phép lạ bánh hóa nhiều của Chúa Giêsu gợi cho chúng ta sự việc: Tiên tri Êlisê ra lệnh cho các đầy tớ đa nghi mang hai mươi chiếc bánh nuôi cả trăm người (x. 2V 4,42-44). Các sách Tin Mừng thuật lại cho chúng ta sáu lần hóa bánh ra nhiều (Mt 14,13.21; 15,32-39; Mc 6,30-44; 8,1-9; Lc 9,10-17; Ga 6,1-15).

Như dân Chúa tìm về đất hứa, như những người cất bước tìm nước Thiên Chúa và nghe Lời giảng dạy, chúng ta đến với Chúa, được Ngài chăm sóc đỡ nâng, chữa lành mọi vết thương, cho đủ thỏa tất cả…

Ý lực sống

“Chúa mở rộng bàn tay ra,
và thi ân cho chúng con được no nê”
(Tv 144,16).

 

Suy niệm (song ngữ)

18th Sunday in Ordinary Time
Reading I: Isaiah 55:1-3
Reading II: Romans 8:35,37-39

Chúa Nhật 18 Thường Niên A
Bài Đọc I: Isaia 55,1-3
Bài Đọc II: Rôma 8,35.37-39

Gospel
Matthew 14:13-21

13 Now when Jesus heard [of the death of John the Baptizer], he withdrew from there in a boat to a lonely place apart. But when the crowds heard it, they followed him on foot from the towns.

14 As he went ashore he saw a great throng; and he had compassion on them, and healed their sick.

15 When it was evening, the disciples came to him and said, “This is a lonely place, and the day is now over; send the crowds away to go into the villages and buy food for themselves”.

16 Jesus said, “They need not go away; you give them something to eat”.

17 They said to him, “We have only five loaves here and two fish”.

18 And he said, “Bring them here to me”.

19 Then he ordered the crowds to sit down on the grass; and taking the five loaves and the two fish he looked up to heaven, and blessed, and broke and gave the loaves to the disciples, and the disciples gave them to the crowds.

20 And they all ate and were satisfied. And they took up twelve baskets full of the broken pieces left over.

21 And those who ate were about five thousand men, besides women and children.

 

Phúc Âm
Matthêu 14,13-21

13 Nghe tin ấy, Đức Giêsu lánh khỏi nơi đó, đi thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt. Nghe biết vậy, đám đông từ các thành đi bộ mà theo Người.

14 Ra khỏi thuyền, Đức Giêsu trông thấy một đám người đông đúc thì chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ.

15 Chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Người: “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy giải tán đám đông, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn”.

16 Đức Giêsu bảo họ: “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn”.

17 Các ông đáp: “Ở đây chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá!”

18 Người bảo: “Đem lại đây cho Thầy!”

19 Rồi sau đó Người truyền cho đám đông ngả lưng trên cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mặt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra, trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho đám đông.

20 Ai nấy đều ăn được no nê. Những mẫu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy.

21 Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con.


Interesting Details

  • “Deserted place” (v.13) is not a desert because it’s next to the Sea of Galilee, but it refers to the desert where Israel traveled for 40 years and ate manna.
  • Jesus asked the disciples to feed the people, “you give them something to eat” (v.16). Jesus used the disciples’ food (v.17f), and used the disciples themselves to distribute that food (v.19).
  • “Sitting down” (v.19) can be translated more accurately as “reclining,” the position for eating. In public places, men would be together, and women and children would gather separately.
  • “He looked up to heaven, and blessed, and broke and gave the loaves”: is similar to the language of the Eucharist (Mt 26:26), and also anticipates the banquet in heaven (Mt 8:11-12, or 22:1-10).
  • The Jewish blessing before a meal is “Blessed are You, O Lord our God, king of the universe, who bring forth bread from the earth”.
  • A similar feeding story appeared in 2Kings 4:42-44, where the prophet Elisha ordered his hesitant servants to use twenty loaves to feed a hundred men. Jesus fed even more, showing his higher status.

Chi Tiết Hay

  • “Chỗ hoang vắng” (c.13) gợi lại hình ảnh sa mạc mà dân Do Thái đi trong 40 năm và được nuôi bằng manna.
  • Chúa bảo các môn đệ: “Chính anh em hãy cho họ ăn” (c.16). Chúa dùng đồ ăn của các môn đệ (c.17f), rồi dùng các môn đệ để phân phát đồ ăn này (c.19).
  • Chúa bảo dân “ngả lưng trên cỏ” (c.19) có nghĩa là sửa soạn ăn, vì ngả lưng là tư thế để ăn. Ở những nơi công cộng, đàn ông thường tụ họp chung với nhau, còn đàn bà và trẻ em thì tụ họp ở nơi khác.
  • “Cầm bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho các môn đệ”: giống như trong bữa tiệc ly (Mt 26:26), và cũng chỉ tới bữa tiệc sau này trên nước trời (Mt 8:11-12,22:1-10).
  • “Lời chúc tụng” trước bữa ăn của người Do Thái là “Chúc tụng Chúa là Chúa tể càn khôn, đấng ban bánh bởi trời”.
  • Có một câu chuyện nuôi dân tương tự trong sách Các Vua quyển 2, câu 4:42-44. Tiên tri Elisha ra lệnh cho các đầy tớ đa nghi mang 20 chiếc bánh nuôi cả trăm người. Chúa nuôi tới năm ngàn, nên phép lạ của Chúa còn lớn hơn và vai trò của Chúa còn cao hơn nữa.

One Main Point

Jesus fed the people. Compare the two feasts. King Herod Antipas dined on delicacies with a chosen few in his stately palace, and beheaded John the Baptist to reward a dancer (Mt 14:3-12, the preceding passage). King Jesus used simple food to feed anyone who followed him to a deserted area, and everyone was healed and satisfied.

Một Điểm Chính

Chúa nuôi dân Ngài. Hai bữa tiệc khác hẳn nhau. Vua Herod Antipas thiết đãi cao lương mỹ vị cho những nhà quyền quý trong cung điện, rồi chặt đầu Gioan Tẩy Giả để thưởng vũ nữ (Mt 14,3-12). Vua Giêsu dùng món ăn của dân nghèo để nuôi bất cứ ai đến với Ngài nơi hoang địa, mọi người được chữa lành và no đủ.


Reflections

  1. What am I at the feast? A sick person to be healed, a follower to be fed, a disciple working with Jesus to feed the people, a bystander, or someone else? Or, am I a prince at Herod’s birthday party instead ?
  2. What nourishes my life? My work, my achievement, my family, my money, grace from God, or what? Am I well-fed and satisfied, or malnourished and frustrated?
  3. What can I do to stay close to the source of my nourishment, and to help Jesus feed people around me?

Suy Niệm

  1. Tôi là ai trong bữa tiệc: người bệnh được chữa lành, người lữ hành đói được ăn, khách bàng quan, hay một người khác ? Hay tôi là một ông hoàng trong bữa tiệc của Herod ?
  2. Thực phẩm nào nuôi dưỡng đời tôi? Công việc, thành quả, gia đình, tiền bạc, ơn Chúa, hay cái gì khác ? Tôi có được no đủ, hay đói và bất an?
  3. Tôi có thể làm gì để được nuôi dưỡng đều đặn, và để giúp Chúa nuôi dưỡng anh chị em quanh tôi ?

Suy niệm  (Linh mục Edmund Power, OSB – Cao Trí biên dịch)

Chủ đề: Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Chúa Kitô?

TGPSG/Vatican News — Nhân dịp Giáo hội cử hành Chúa nhật XVIII Thường niên, cha Edmund Power chia sẻ suy niệm về chủ đề: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Chúa Kitô?”

Phép lạ hóa bánh ra nhiều được cả bốn tác giả Tin Mừng thuật lại; riêng thánh Matthêu và thánh Máccô đều ghi lại hai lần. Hôm nay, chúng ta nghe trình thuật thứ nhất của thánh Matthêu về việc Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều nuôi năm ngàn người. Trình thuật mở đầu bằng lời: “Người thấy đám đông thì chạnh lòng thương.” Chính lòng trắc ẩn, hay tình yêu ấy, là điều tôi muốn suy niệm dưới ánh sáng của bài đọc I và bài đọc II hôm nay.

Phần kết của chương 8 thư gửi tín hữu Rôma là một trong những đoạn văn cao đẹp nhất của Tân Ước và rất đáng để suy niệm. Đoạn văn mở đầu và kết thúc bằng cùng một động từ đầy ý nghĩa: “tách ra.” Theo nghĩa đen, đây chỉ là một động từ trung tính. Nhưng khi được áp dụng vào các mối tương quan giữa con người với nhau, chúng ta nhận ra sức nặng của nó, bởi sự chia lìa luôn gắn liền với nỗi đau của mất mát. Đồng thời, trong một số trường hợp, sự chia lìa cũng có thể mang lại sự giải thoát, bởi đôi khi đó là điều cần thiết, dù thường chỉ là một giải pháp bất đắc dĩ khi chưa thể đạt tới sự hòa giải đích thực.

Thánh Phaolô xây dựng một kết cấu bao khung (inclusio) dựa trên động từ này. Câu hỏi tu từ: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Chúa Kitô?” được trả lời ở cuối đoạn: “Không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta.”

Giữa hai lần xuất hiện của động từ ấy là hai chuỗi liệt kê những điều tưởng chừng có thể chia cắt chúng ta. Trong chuỗi thứ nhất, thánh Phaolô nêu bảy hoàn cảnh như gian truân, khốn khổ…; trong chuỗi thứ hai, ngài liệt kê mười thực tại, bắt đầu với sự chết và sự sống. Chuỗi thứ nhất được khép lại bằng lời khẳng định dứt khoát ở câu 37: “Không.” Chuỗi thứ hai còn mạnh mẽ hơn khi từng yếu tố đều được phủ định bằng công thức “không… cũng không…”.

Nằm giữa hai chuỗi ấy là lời khẳng định then chốt: “nhờ Đấng đã yêu thương chúng ta.” Chính tình yêu của Chúa Kitô, được biểu lộ qua lòng trắc ẩn mà bài Tin Mừng hôm nay nói đến, đã xóa bỏ mọi sự chia lìa. Ngay cả cấu trúc ngữ pháp của đoạn văn cũng diễn tả điều đó: hai lần xuất hiện của động từ “tách ra” được ngăn cách bởi lời khẳng định phủ nhận mọi sự chia lìa qua mười một từ ngữ minh nhiên.

Xin được lượng thứ nếu những suy tư trên có vẻ quá tỉ mỉ đối với đoạn văn này. Tuy nhiên, sứ điệp của đoạn Kinh Thánh thì rất rõ ràng: sự kết hiệp của chúng ta với Chúa Kitô, hay việc chúng ta không bị tách rời khỏi Người, hoàn toàn là công trình của tình yêu Thiên Chúa, được nhắc đến ba lần trong bài đọc ngắn này.

Tình yêu Agape của Thiên Chúa, được biểu lộ nơi Đức Kitô, chính là nguồn mạch của lòng trắc ẩn được diễn tả trong bài Tin Mừng hôm nay. Lòng trắc ẩn ấy không dừng lại ở những cảm xúc, nhưng được thể hiện bằng hành động cụ thể là trao bánh cho người đói. Tính nhưng không của tình yêu ấy cũng được công bố trong bài đọc sách Isaia: “Hãy đến, mua rượu và sữa mà không cần tiền, không phải trả giá.”

Câu ngạn ngữ quen thuộc mang màu sắc hoài nghi: “Không có bữa ăn nào là miễn phí” đã được cả ba bài đọc của Chúa nhật XVIII Thường niên năm A phủ nhận. Thiên Chúa ban hồng ân của Người cách nhưng không; và chính chúng ta cũng được mời gọi sống tinh thần quảng đại ấy đối với tha nhân.

Tin Giáo Xứ

Tin Gp. Bùi Chu

Tin Giáo hội Việt Nam

Tin Giáo hội Hoàn Vũ

Tin Tức Cập Nhật