1. Thánh Giuse Hiền, người gieo hạt giống Tin mừng
Tiền thân chúng ta khi về đây khai hoang phục hóa đều là những con người chưa được tiếp nhận ánh sáng Tin mừng. Thiên Chúa toàn năng và đầy yêu thương đã lo liệu cho tiền nhân chúng ta, không những đất đai để cư ngụ, sinh sống mà còn để lại cho con cháu cơ đồ hôm nay. Nhưng đặc ân quý hơn cả là Thiên Chúa đã lo liệu cho tiền nhân chúng ta được tiếp nhận ánh sáng Tin mừng. Thiên Chúa đã dùng vị thừa sai đạo đức thánh thiện, vượt qua đại dương vạn dặm, sang Việt Nam để loan báo Tin mừng cứu độ. Và mảnh đất Xuân Dục dấu yêu là địa danh mang dấu chân Người, được lịch sử ghi lại cách đặc biệt. Chính Người đã đem Tin mừng cho tiền nhân chúng ta và cũng là người có công đầu trong việc lập ấp và giáo họ Xuân Dục. Ngay từ xưa, tiền nhân chúng ta đã tôn nhận Người là vị Thánh tổ. Để người dân Xuân Dục muôn đời biết được vị thánh tổ của mình, xin trân trọng giới thiệu nguyên bản tư liệu tiểu sử của Thánh nhân, từ tu viện Đaminh.

Giuse Fernandez Hiền, linh mục Đa Minh; Sinh 1775 tại Ventosa de la Cueva, Tây Ban Nha; chết 24/7/1838 tại Nam Định. Sau khi được khấn làm một thầy dòng Đa Minh, ngài được học học trong chủng viện để phục vụ tại Việt Nam. Năm 1805, ngài được gửi đến Bắc Hà, nơi đây ngài được thụ phong linh mục, Được bổ nhiệm làm giám tỉnh ở đây, và bị bắt ngay sau đó. Bị xử trảm (chém đầu). Phong Á Thánh 1900, Ngày Lễ: 24 tháng 7
Khi bị thẩm vấn về các thừa sai, linh mục Fernandez Hiền liền nhận là có quen thân với hai Giám mục Delgado Y và Henares Minh. Cha xin quan cho gặp mặt vì biết hải vị đang bị giam cầm ở đây. Cuộc gặp kéo dài gần tiếng đồng hồ, mỗi vị một cũi. Nhưng cũng đủ để ba vị thủ lãnh giáo phận Đông trao đổi, an ủi và khích lệ nhau. Đức cha Delgado Y vì bệnh nặng nên ít nói hơn. Nhưng bỗng nhiên ngài hỏi cao giọng bằng tiếng Việt, chắc có ý cho quan quân nghe được: “Này cha bề trên phụ tinh, cha đã sẵn lòng tự nguyện để người ta chém đầu chưa?”Không chút ngần ngừ, cha chính Hiền trả lời: “Dĩ nhiên đã sẵn sàng”. Các quan và lính tráng có mặt hôm đó đều ngạc nhiên hết sức khi thấy những tù nhân của họ nói đến cái chết cận kề, mà vẫn bình tĩnh, nếu không nói là vui vẻ nữa.
Hai ngày sau, tâm tư của cha Hiền được khẳng định rõ hơn cho các quan: “Xin các ngài biết cho, không bao giờ tôi chà đạp Thánh Giá. Còn việc về nước (Tây Ban Nha) thì tôi không muốn, vì tôi đến đây với trước nguyện là giảng đạo Chúa Kitô, đạo chân chính duy nhất giúp con người sống tốt đẹp ở đời này và đạt hạnh phúc vĩnh cửu đời sau. Tôi sẵn sàng lấy máu mình để làm chứng cho người dân Việt biết đạo Thiên Chúa là đạo thật. Đó là mục đích và niềm vui của tôi”.
Giuse Fernandez sinh ngày 03/12/1775 trong một gia đình đạo đức ở Ventosa de la Cuesta, tỉnh Valladolid, giáo phận Avila, Tây Ban Nha. Cha mẹ cậu rất hân hoan khi cậu xin vào dòng Đaminh, và coi đó là một vinh dự cũng như đặc ân Chúa ban cho gia đình. Tại tu viện thánh Phaolô (ở Valladolid) cậu tuyên khấn ngày 02/08/1796, khi mới 17 tuổi, sau đó thầy Fernandez học triết lý và thần học, rồi được thụ phong linh mục.
Để thực hiện hoài bão truyền bá Tin Mừng cho niền Viễn Đông, cha Fernandez xin chuyển qua Tinh Hạt Rất Thánh Mân Côi và tới Manila (Phi Luật Tân) ngày 16/04/1805. Từ đây ngài đến Macao cùng với ba cha dòng Đaminh khác: Luis Villanova, Giacôbê Mateo và Manuel Gonzalez. Ngày 18/02/1806, bốn tu sĩ thuyết giáo theo một tàu của Anh vào bến Cửu Hàn (Đà Nẵng). Từ đây, bốn vị riêng rẽ đi bộ lên giáo phận Đông Đàng Ngoài, trời có bão, các thuyền bè không ai giám chở. Tháng 6 năm đó, cha Femandez đến được trụ sở Bề trên phụ tỉnh.
Việt Nam thời này đang dưới quyên Gia Long, các thừa sai tương đối tự do giảng đạo.
Sau một vài tháng học tiếng, vị tông đồ trẻ tuổi đã bắt tay vào công và việc truyền giáo hăng say Vốn bản tính hiền lành, khiêm tốn và nhã nhặn, cha Hiền được mọi người cả giáo lẫn trang đều quý mến. Nhờ đó cha đã giúp nhiều lượng dân đón nhận đức tin, nhất là tại làng
Xuân Dục.
Giáo xứ cha Hiền phụ trách lâu nhất là Kiên Lao, nơi cha đã nâng số tín hữu lên đến 5.000 khi cuộc bách hại của vua Minh Mạng bùng nổ. Từ đây cha phụ trách chủng viện của giáo phận. Năm 1837, sau một cơn bệnh kiết lỵ suýt chết, tỉnh dòng trao cho cha chức vụ Bề Trên Phụ Tinh. Cha vâng lời nhận trách nhiệm với sự trợ giúp của linh mục phụ tá Hermosilla Vọng. Tuy làm cha chính có vài tháng, cha đã phải lãnh trách nhiệm trong giai đoạn bão tố của giáo phận Đông. Những lá thư của cha Viên bị tịch thu đã tố cáo sự hiện diện của các linh mục ngoại quốc tại Nam Định.
Trong cơn truy lùng gắt gao của Tổng đốc Trịnh Quang Khanh năm 1838, cha Hiền đang ở chủng viện Ninh Cường, được giáo dân yêu cầu dọn đi nơi khác: “xin cha thương chúng con mà lánh đi nơi khác, keo nếu họ bắt được cha ở đây, chúng con sẽ mất hết tài sản và có lẽ mất cả đầu nữa”. Thế là vị linh mục 63 tuổi đang mang trọng bệnh, đành phải ra về Quần Liêu, có hai thầy giảng theo giúp đỡ ngài.
Khi đến Quần Liêu, giáo hữu ở đây cũng lo sợ không kém bên Ninh Cường. Vì sợ liên lụy, họ đã xin ngài đừng ở lại. Một lần nữa cha Hiền và hai thầy giảng lại ra đi mà không biết đến đâu, vừa đi vừa nghĩ đến gương của Thầy Chí Thanh: “Cáo có hang chim trời có tổ, còn Con Người không chỗ gối đầu”. Nhưng may mắn thay, đang tình trạng bế tắc đó thì một linh mục Việt Nam xuất hiện.
Cha Phêrô Tuần đang coi xứ Lác Môn khi biết tin, liền đến Quần Liêu can thiệp. Cha trách các tín hữu ở đây bội bạc, và yêu cầu họ cho cha Hiền lưu lại vài ngày. Cha Tuần cũng quyết định ở lại để tìm chỗ ẩn mới cho vị thừa sai. Hai ngày sau, hai cha vượt sông qua giáo phận Tây đàng Ngoài, ghé vào xứ Kim Sơn. Nhưng vừa đến nơi thì hay tin quan tỉnh Nam Định đã ra lệnh cho quan địa phương lùng bắt hai vị rồi. Dân xứ Kim Sơn vì thế không giám lưu giữ, họ mời hai vị linh mục lên một chiếc thuyền nhỏ rồi đưa các vị vào vùng xình lầy gần đó. Địa điểm này tuy an toàn không bị truy lùng, nhưng quả là gian khổ vì bùn lầy tanh 1 hôi, ban ngày thì nắng cháy da, đêm về thì làm mồi cho muỗi đốt.
Cũng may có cha xứ Kim Sơn khi biết tình trạng bi đát của hai chúng nhân đức tin liền tìm cách thu xếp. Hai ngày sau, ngài cho người nước hai cha về trú ở nhà ông Bát Biên (hàm Bát Phẩm), là người thợ ơn cha xứ nhiều lần. Hơn nữa ông này ngoại giáo nên ở đây an toàn hơn. Thực tế Bát Biên xử với hai vị rất tốt suốt tám ngày liền, trước khi lập mưu giao nộp để lãnh thưởng.
Đêm 18/06, ông ta nói dối rằng: “Con nghe tin quan biệt hai cha ở đây và quan quân sắp đến vậy làng con phải đem hai cha đi nơi khác, an toàn hơn”. Rồi ông ta mời cha chính Hiền xuống thuyền đem nộp ngài cho quan quân trên bờ sông Qui hậu. Sau đó, về nói dối để chở Cha Tuần đi nộp tiếp. Nhờ việc tố giác này. Bát Biên được vua Minh Mạng tăng thêm một cấp quan và thưởng cho 100 nén bạc.
Đêm hôm đó, hai môn đệ Chúa Kitô bị giam tại huyện, các ngài giải tối cho nhau và khích lệ
nhau chịu đựng gian khổ dù phải chết. Sáng hôm sau, quân lính điệu hai cha lên Ninh Bình, Cha Hiền bị nhốt trong cũi bằng tre, cha Tuần phải mang gông nặng. Ngày 22/06, hai Cha được giải về Nam Định, các quan và tính vũ trang ra đón hai cha giữa tiếng hò reo chiến thắng. Sau đó họ giam mỗi vị một nơi.
| Ngồi bó gối trong cũi tại ngục Nam Định, cha Hiền phải chịu đói khát, và nhất là cơn nóng nực. có lẽ ngài đã chết tại đó nếu không được anh Đường, một tín hữu tốt bụng đến tiếp cứu. Anh đã bỏ tiền ra mua chuộc lính gác để được vào tiếp tế mỗi ngày một lượng thực. Mấy ngày đầu, anh còn phải giúp ngài đưa từng miếng cơm, ngụm nước vào miệng vị linh mục quá kiệt sức đến độ tự mình không thể ăn uống được nữa.
Một tháng trong tù, nhiều lần cha bị đưa ra tòa để đối chất. Quan Tổng đốc mới Lê Văn Đức điều tra ngài về lý lịch, đến đây làm gì, bao lâu? Cha cố trả lời vắn tắt để không liên lụy đến ai. Cha nói: “Từ ngày vua cấm đạo, chúng tôi mạnh ai nấy chốn, chẳng biết ai ở đâu cả”. Quan hứa sẽ đặt cha làm thông dịch viên nếu chịu bỏ đạo, cha đáp: “Tôi đến đây không để phục vụ vua chúa trần gian này mà chỉ để rao giảng đạo Đức Chúa Trời thôi”. Thế rồi, cha xin được gặp hai Đức cha đã bị giam trước, và bình tĩnh tỏ lòng sẵn sàng chết vì đức tin theo vị chủ chăn của mình. Thấy không thể làm cha bỏ đạo, đạp lên Thánh Giá, các quan họp nhau và nên án trảm quyết ngài. Bản án của cha và cha Tuần được vua Minh Mạng châu phê tới Nam Định ngày 18/07. Cha Phêrô Tuần vì tuổi già sức yếu, đã về với Chúa trước đó ba ngày.
Sáng ngày 24/07, trước khi đem đi xử, các quan còn khuyên dụ cha Hiền lần cuối: “Lát nữa ông sẽ bị chém đầu nếu không đạp lên Thập Giá, “Hãy quyết định lại đi, ông sẽ được tha về Âu châu”. Vị chứng nhân trả lời: “Tôi không chịu đạp lên Thánh Giá, các ông muốn chém thì cứ chém”. Sau đó nhốt cha trong cũi, các quan để mặc dân chúng đến xem chế nhạo. Họ kéo đến chửi mắng, bứt tóc giật râu hoặc thò tay đấm vào người cha.
Khoảng 2 giờ chiều, quan quân mới đưa vị linh mục đến pháp trường Bảy Mẫu Khi quân lính kéo ngài ra khỏi cũi và ném lên chiếu, ngài hầu như không gượng dậy nổi, phần
vì đau mệt, phần thì đói lả, ngài nằm sõng soài ra đó. Tuy thế, cặp mắt của vị anh hùng vẫn hướng về trời cao, dâng lên Thiên Chúa hy tế đời mình và dâng lời cảm tạ sốt sắng qua 32 năm được phúc làm chứng cho Thiên Chúa ở Việt Nam. Lý hình vung gươm xử chém đang lúc chứng nhân còn chìm sâu trong ý nguyện.
Đầu vị tử đạo phải bều ba ngày trước khi bị ném xuống sông. Các giáo hữu đem áo quan theo sẵn, đút tiền để đưa thi hài về an táng tại chủng viện Lục Thủy. Hiện hài cốt ngài còn để tại nhà thờ Phú Nhai.
Ngày 27/05/1900, Đức Lêo Xll suy tôn cha Giuse Fernandez Hiền, dòng Đaminh, lên bậc Chân Phước. Ngày 19/06/1988, Đức Chân Phước Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.
(Nguồn từ tu viện Đaminh)
Cha Hiền đáp lại lời hỏi cung của các quan như sau: “Xin các quan biết cho, không bao giờ tôi chà đạp Thánh Giá, còn việc về nước Tây Ban Nha thì tôi không muốn, vì tôi đến đây với ước nguyện là giảng đạo Chúa Giêsu, đạo chân chính duy nhất giúp con người sống tốt đẹp ở đời này và đạt hạnh phúc vĩnh cửu đời sau. Tôi sẵn sàng lấy máu mình để làm chứng cho người dân Việt biết đạo Thiên Chúa là đạo thật. Đó là mục đích và niềm vui của tôi”. Tổng đốc mời Lê Văn Đức điều tra và hỏi cung ngài, ngài đáp: “Từ ngày vua cấm đạo, chúng tôi mạnh ai nấy trốn chẳng biết ai ở đâu cả”. Quan hứa sẽ tâu vua đặt cha làm thông dịch viên nếu cha bỏ đạo, Cha đáp: “Tôi đến đây không để phục vụ vua chúa trần gian này, mà chỉ để rao giảng đạo Đức Chúa Trời thôi”. Quan dụ dỗ đạp lên Thánh Giá, chả liên đáp: “Tôi không chịu đạp lên Thánh Giá, các ông muốn chém thì cứ chém”.
| Công lao to lớn của Cha Thánh Tổ với giáo dân Xuân Dục cả đôi phần hồn xác thật không thể diễn tả hết bằng lời hay viết bằng văn. Cha Thánh đã coi sóc giáo họ Xuân Dục gần 30 năm. Người đã không nề quản gian nan vất vả để cử hành phụng vụ, ban phát các bí tích, chăm sóc đức tin cho giáo dân Xuân Dục trong thời gian sơ khai đang còn non yêu, nâng đỡ những ai gian nan khốn khó. Chính Người đã chọn thánh Vinhsơn làm bổn mạng cho giáo xứ và cũng chính Người đã cắm mốc cho làng Xuân Dục, kể cả khu đất nhà thờ nhà xứ cũng do chính Người cắm mốc. Khi về Thiên quốc, Người luôn bầu cử cho con cháu. Đức tin Người gieo vãi sẽ vẫn mãi sinh hoa kết trái. Người để lại một gia sản quý báu, đó là giáo xứ Xuân Dục toàn tòng.
| Hai trăm năm đã qua, từ khi Cha Thánh tổ gieo vãi hạt giống Tin mừng trên mảnh đất Xuân Dục. Hôm nay con cháu kỷ niệm biến cố hồng phúc đó là để cảm tạ tình thương Thiên Chúa, qua lời nguyện giúp cầu thay của Đức trinh nữ Maria và các thánh, đặc biệt của thánh bổn mạng Vinhsơn và Thánh tổ Giuse Hiền.
| Cách riêng với Thánh Tổ, ngay từ rất sớm, Xuân Dục đã tạc tượng tôn kính Người. Và dù ở nhà hay đi xa, hàng ngày, người dân Xuân Dục không ai lại không đọc kinh cảm tạ Chúa và kinh kính Thánh tổ. Hàng năm, đến ngày 24/7, ngày Cha Thánh tổ được lãnh triều thiên Thiên Quốc, bà con Xuân Dục coi như ngày đại lễ, cùng nhau hiệp dâng Thánh lễ và cung nghinh tượng người. Không chỉ giáo xứ quê hương tổ chức, nhưng cả các địa phương đồng hương trong và ngoài nước cũng đều tổ chức mừng lễ kính Người. Năm 2013, dịp kỷ niệm 200 năm đón nhận Tin mừng và thành lập ấp, 175 năm ngày Thánh tổ được phúc từ đạo, tuy còn nhiều khó khăn, nhưng với lòng thành kính biết ơn, giáo dân Xuân Dục đã xây dựng thánh đài để tôn kính Thánh tổ như biểu lộ lòng biết ơn Người và cũng để nhắc nhớ con cháu mai sau không quên ơn cha thánh